Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi 2014 được ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam, tập trung vào việc tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc giữ vững, xác định và chứng minh quốc tịch Việt Nam của mình.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản này áp dụng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, công dân Việt Nam, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến công tác quản lý, xác định và cấp giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung cốt lõi
Luật thực hiện việc sửa đổi, bổ sung một số quy định quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi về quốc tịch của kiều bào, cụ thể bao gồm:
1. Quy định về người có quốc tịch Việt Nam (Sửa đổi, bổ sung Điều 13)
- Xác định người có quốc tịch Việt Nam: Người có quốc tịch Việt Nam bao gồm những người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và những người có quốc tịch Việt Nam theo các quy định của Luật này.
- Bảo toàn quốc tịch cho kiều bào: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì vẫn giữ nguyên quốc tịch Việt Nam.
- Đăng ký xác định quốc tịch và cấp hộ chiếu: Đối với những người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam nhưng không có các giấy tờ chứng minh quốc tịch theo quy định tại Điều 11 của Luật Quốc tịch Việt Nam, họ có quyền đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch Việt Nam và được cấp Hộ chiếu Việt Nam.
- Trách nhiệm hướng dẫn của Chính phủ: Chính phủ được giao nhiệm vụ quy định chi tiết trình tự, thủ tục thực hiện việc đăng ký xác định quốc tịch và cấp hộ chiếu cho các đối tượng này.
2. Bãi bỏ quy định tại khoản 3 Điều 26
- Luật chính thức bãi bỏ hoàn toàn quy định tại khoản 3 Điều 26 của Luật Quốc tịch Việt Nam. Việc bãi bỏ này giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, loại bỏ các rào cản pháp lý liên quan đến thời hạn đăng ký giữ quốc tịch, từ đó bảo đảm quyền lợi tối đa cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc duy trì sợi dây liên kết pháp lý với Tổ quốc.
Hiệu lực thi hành
Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi 2014 có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 56/2014/QH13 | Hà Nội, ngày 24 tháng 06 năm 2014 |
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quốc tịch Việt Nam:
1. Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 13. Người có quốc tịch Việt Nam
1. Người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này.
2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày Luật này có hiệu lực thì vẫn còn quốc tịch Việt Nam.
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo quy định tại Điều 11 của Luật này thì đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp Hộ chiếu Việt Nam.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 24 tháng 6 năm 2014.
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Luật Quốc tịch Việt Nam sửa đổi 2014
- Số hiệu: 56/2014/QH13
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 24/06/2014
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Sinh Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 677 đến số 678
- Ngày hiệu lực: 26/06/2014
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
