Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2025 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 27 tháng 6 năm 2025. Văn bản này tập trung sửa đổi, bổ sung các quy định mang tính then chốt liên quan đến cơ chế cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước và quy trình, thủ tục thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm đối với các khoản nợ xấu nhằm tháo gỡ vướng mắc pháp lý, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính quốc gia.
Phạm vi điều chỉnh của Luật tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành, đặc biệt là cơ chế xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm. Đối tượng áp dụng bao gồm các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán và xử lý nợ, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan tiến hành tố tụng, cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan đến biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Cơ chế cho vay đặc biệt với lãi suất 0%/năm
Luật sửa đổi đã mang lại thay đổi căn bản trong chính sách hỗ trợ thanh khoản và phục hồi các tổ chức tín dụng gặp khó khăn:
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thẩm quyền quyết định cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng dưới hình thức có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm trong các trường hợp khẩn cấp theo quy định.
- Tài sản bảo đảm cho khoản vay đặc biệt này sẽ được thực hiện theo quy định cụ thể của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Đặc biệt, mức lãi suất áp dụng cho các khoản cho vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước được ấn định rõ ràng là 0%/năm, tạo điều kiện tối đa để tổ chức tín dụng cơ cấu lại hoạt động.
Quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu
Đây là một trong những nội dung cốt lõi nhằm đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Luật quy định chi tiết về quyền hạn và điều kiện thu giữ tài sản bảo đảm:
- Bên bảo đảm hoặc người đang giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có nghĩa vụ bàn giao tài sản kèm theo toàn bộ giấy tờ, hồ sơ pháp lý cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc tổ chức mua bán, xử lý nợ. Trường hợp không tự nguyện bàn giao, các tổ chức này có quyền chủ động thu giữ tài sản bảo đảm.
- Điều kiện để thực hiện quyền thu giữ bao gồm: xảy ra trường hợp xử lý tài sản theo Bộ luật Dân sự; có thỏa thuận đồng ý thu giữ trong hợp đồng bảo đảm; biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba; tài sản không bị tranh chấp trong vụ án đã thụ lý, không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, không bị kê biên thi hành án hoặc tạm đình chỉ do phá sản; tài sản đáp ứng điều kiện của Chính phủ; và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công khai thông tin.
- Về thẩm quyền ủy quyền: Tổ chức tín dụng chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) của chính mình. Tổ chức mua bán nợ được ủy quyền cho tổ chức tín dụng bán nợ hoặc AMC của tổ chức tín dụng bán nợ. Tổ chức tín dụng được chuyển giao bắt buộc được ủy quyền cho tổ chức nhận chuyển giao hoặc AMC của họ.
- Trong quá trình thu giữ, nghiêm cấm áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Các tổ chức phải ban hành quy trình nội bộ cụ thể để thực hiện thống nhất.
Thủ tục công khai thông tin trước khi tiến hành thu giữ tài sản
Để bảo đảm tính minh bạch và quyền lợi của các bên liên quan, Luật quy định quy trình công khai thông tin nghiêm ngặt đối với từng loại tài sản:
- Đối với bất động sản: Chậm nhất 15 ngày trước ngày thu giữ, tổ chức tín dụng hoặc tổ chức xử lý nợ phải công khai thông tin về thời gian, địa điểm, lý do thu giữ. Hình thức công khai gồm: đăng tải trên trang thông tin điện tử của mình; gửi thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân (UBND) và Công an cấp xã nơi có tài sản; niêm yết thông báo tại trụ sở UBND cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ và nơi có tài sản; thông báo trực tiếp cho bên bảo đảm theo thỏa thuận hoặc qua bưu chính, phương tiện điện tử.
- Đối với động sản: Phải thực hiện công khai thông tin trước khi tiến hành thu giữ bằng cách đăng tải trên trang thông tin điện tử; gửi văn bản thông báo cho UBND và Công an cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ; thông báo cho bên bảo đảm theo phương thức đã thỏa thuận.
- Vai trò của chính quyền địa phương: UBND và Công an cấp xã có trách nhiệm bảo đảm an ninh, trật tự trong quá trình thu giữ. Trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc vắng mặt, đại diện UBND cấp xã sẽ tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ tài sản.
Quy định về kê biên tài sản đang làm tài sản bảo đảm cho nợ xấu
Tài sản của bên phải thi hành án đang dùng làm tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng chỉ bị kê biên, xử lý theo pháp luật thi hành án dân sự khi thuộc một trong ba trường hợp:
- Hợp đồng bảo đảm được ký kết và phát sinh hiệu lực sau thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Việc thi hành án nhằm thực hiện bản án, quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe.
- Có sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoặc tổ chức mua bán, xử lý nợ đang nhận bảo đảm.
Hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự
Luật tạo cơ chế thông thoáng hơn cho việc xử lý vật chứng là tài sản bảo đảm:
- Sau khi hoàn tất thủ tục xác định chứng cứ và xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án cũng như thi hành án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ hoàn trả vật chứng là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu cho tổ chức tín dụng hoặc tổ chức xử lý nợ theo đề nghị của họ.
- Điều kiện áp dụng là hợp đồng bảo đảm phải có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho bên nhận bảo đảm quyền thu giữ tài sản khi xảy ra trường hợp xử lý nợ. Sau khi nhận lại, việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Các quy định bị bãi bỏ
Để đồng bộ hóa hệ thống pháp luật, Luật bãi bỏ một số nội dung liên quan đến thẩm quyền quyết định cho vay đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ trước đây, bao gồm:
- Bãi bỏ cụm từ liên quan đến thời hạn 60 ngày kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ quyết định việc cho vay đặc biệt tại khoản 3 Điều 169.
- Bãi bỏ hoàn toàn khoản 4 Điều 169, khoản 4 Điều 172, khoản 5 Điều 179, khoản 7 Điều 183 và khoản 4 Điều 193 của Luật Các tổ chức tín dụng hiện hành.
- Bãi bỏ phần viện dẫn kỹ thuật tại khoản 4 Điều 180.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2025 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2025. Chính phủ chịu trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết để triển khai thực hiện các nội dung của Luật này trên thực tế.
Quy định chuyển tiếp
Luật đưa ra các phương án xử lý chuyển tiếp rõ ràng đối với các quan hệ pháp luật phát sinh trước ngày Luật có hiệu lực:
- Đối với khoản vay đặc biệt của tổ chức tín dụng từ Ngân hàng Nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định trước ngày 15 tháng 10 năm 2025: Các bên tiếp tục thực hiện theo Quyết định cho vay đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ và hợp đồng đã ký kết. Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét gia hạn thời hạn vay đặc biệt với mức lãi suất ưu đãi 0%/năm theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Đối với tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đã bị kê biên, xử lý theo quy định tại Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự trước ngày Luật này có hiệu lực nhưng chưa xử lý xong: Tiếp tục áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự để giải quyết dứt điểm, không hồi tố theo quy định mới.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Luật số: 96/2025/QH15 | Hà Nội, ngày 27 tháng 6 năm 2025 |
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 43/2024/QH15.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 193 như sau:
“1. Ngân hàng Nhà nước quyết định cho vay đặc biệt có tài sản bảo đảm, không có tài sản bảo đảm đối với tổ chức tín dụng trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 192 của Luật này. Tài sản bảo đảm của khoản vay đặc biệt từ Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Lãi suất cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước là 0%/năm.”.
2. Bổ sung các điều 198a, 198b và 198c vào sau Điều 198 như sau:
“Điều 198a. Quyền thu giữ tài sản bảo đảm
1. Bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm kèm theo giấy tờ, hồ sơ pháp lý của tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ để xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm hoặc trong văn bản khác (sau đây gọi là hợp đồng bảo đảm) và quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Trường hợp bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm không giao tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ để xử lý thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ được thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều này.
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 299 của Bộ luật Dân sự;
b) Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
c) Biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
d) Tài sản bảo đảm không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền; không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật; không thuộc trường hợp bị tạm đình chỉ xử lý theo quy định của pháp luật về phá sản;
đ) Tài sản bảo đảm được thu giữ phải đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ;
e) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ đã thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin theo quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 Điều này.
3. Chậm nhất 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là bất động sản, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ phải thực hiện thủ tục công khai thông tin về thời gian, địa điểm thu giữ tài sản bảo đảm, tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ. Việc công khai thông tin được thực hiện dưới các hình thức sau đây:
a) Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình;
b) Gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an cấp xã nơi có tài sản bảo đảm;
c) Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm và trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản bảo đảm;
d) Thông báo cho bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm (nếu có) theo phương thức thông báo đã thỏa thuận tại hợp đồng bảo đảm.
Trường hợp không có thỏa thuận thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ gửi trực tiếp văn bản thông báo cho bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm (nếu có) hoặc thông qua ủy quyền, dịch vụ bưu chính, phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu hoặc phương thức khác theo các thông tin, địa chỉ do bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm cung cấp.
Trường hợp bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm (nếu có) thay đổi địa chỉ mà không thông báo cho bên nhận bảo đảm biết thì địa chỉ của bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm được xác định theo địa chỉ đã được các bên này cung cấp trước đó theo hợp đồng bảo đảm hoặc theo thông tin được lưu trữ tại cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm.
4. Trước khi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm là động sản, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ phải thực hiện thủ tục công khai thông tin về tài sản bảo đảm được thu giữ, lý do thu giữ. Việc công khai thông tin được thực hiện dưới các hình thức sau đây:
a) Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình;
b) Gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan Công an cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo hợp đồng bảo đảm;
c) Thông báo cho bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm (nếu có) theo phương thức thông báo đã thoả thuận tại hợp đồng bảo đảm.
Trường hợp không có thỏa thuận thì tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ gửi trực tiếp văn bản thông báo cho bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm (nếu có) hoặc thông qua ủy quyền, dịch vụ bưu chính, phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu hoặc phương thức khác theo các thông tin, địa chỉ do bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm cung cấp.
Trường hợp bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm (nếu có) thay đổi địa chỉ mà không thông báo cho bên nhận bảo đảm biết thì địa chỉ của bên bảo đảm, người đang giữ tài sản bảo đảm được xác định theo địa chỉ đã được các bên này cung cấp trước đó theo hợp đồng bảo đảm hoặc theo thông tin được lưu trữ tại cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm.
5. Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan Công an cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm.
Trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ tài sản bảo đảm.
6. Tổ chức tín dụng chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng đó; tổ chức mua bán, xử lý nợ chỉ được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng bán nợ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng bán nợ; tổ chức tín dụng được chuyển giao bắt buộc được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm cho tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc hoặc công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của tổ chức tín dụng nhận chuyển giao bắt buộc.
Trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ, tổ chức được ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản này không được áp dụng các biện pháp vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội.
7. Căn cứ quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ phải xây dựng và ban hành quy định nội bộ về trình tự, thủ tục thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm, bao gồm cả quy định khi thực hiện việc ủy quyền thu giữ tài sản bảo đảm quy định tại khoản 6 Điều này.
Điều 198b. Kê biên tài sản của bên phải thi hành án đang được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu
Tài sản của bên phải thi hành án đang được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản nợ xấu tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ bị kê biên, xử lý theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Hợp đồng bảo đảm đã được ký kết và phát sinh hiệu lực sau thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;
2. Thi hành bản án, quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ;
3. Có sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ.
Điều 198c. Hoàn trả tài sản bảo đảm là vật chứng trong vụ án hình sự
1. Sau khi hoàn tất thủ tục xác định chứng cứ và xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng hoàn trả vật chứng trong vụ án hình sự là tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo đề nghị của bên nhận bảo đảm là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ nếu hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
2. Việc xử lý tài sản bảo đảm sau khi được hoàn trả theo quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.”.
3. Bãi bỏ cụm từ “hoặc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ quyết định việc cho vay đặc biệt theo quy định tại khoản 4 Điều này” tại khoản 3 Điều 169.
4. Bãi bỏ khoản 4 Điều 169, khoản 4 Điều 172, khoản 5 Điều 179, khoản 7 Điều 183 và khoản 4 Điều 193.
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 10 năm 2025.
2. Chính phủ hướng dẫn thực hiện Luật này.
1. Khoản vay đặc biệt của tổ chức tín dụng từ Ngân hàng Nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được thực hiện như sau:
a) Các bên tiếp tục thực hiện theo Quyết định cho vay đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ, hợp đồng cho vay đặc biệt đã ký;
b) Ngân hàng Nhà nước xem xét gia hạn thời hạn vay đặc biệt với lãi suất 0%/năm theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
2. Tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu đã bị kê biên, xử lý theo quy định tại Điều 90 của Luật Thi hành án dân sự trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa xử lý xong thì được tiếp tục áp dụng quy định của pháp luật về thi hành án dân sự để thực hiện.
Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 27 tháng 6 năm 2025.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Bạn vui lòng Tải văn bản để xem.
- 1Nghị quyết 79/NQ-CP năm 2024 về Đề nghị xây dựng Luật sửa đổi Luật Đất đai 31/2024/QH15, Luật Nhà ở 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản 29/2023/QH15, Luật Các tổ chức tín dụng 32/2024/QH15 do Chính phủ ban hành
- 2Thông báo 247/TB-VPCP năm 2024 Kết luận của Phó Thủ tướng Lê Minh Khái tại cuộc họp về tiến độ xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Nghị quyết 84/NQ-CP năm 2024 về Dự án xây dựng Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi do Chính phủ ban hành
Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2025
- Số hiệu: 96/2025/QH15
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Trần Thanh Mẫn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 971 đến số 972
- Ngày hiệu lực: 15/10/2025
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
