Lệnh công bố Pháp lệnh Thể dục thể thao năm 2000 là văn bản pháp lý quan trọng do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nhằm chính thức công bố và đưa vào áp dụng Pháp lệnh Thể dục thể thao. Đây là bước ngoặt lớn trong việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Phạm vi áp dụng của văn bản bao gồm toàn bộ các hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể thao trường học, thể thao trong lực lượng vũ trang, thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp. Đối tượng áp dụng là các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân hoạt động thể dục, thể thao tại Việt Nam.
Nội dung cốt lõi của phần mở đầu và các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Dưới đây là phân tích chi tiết về các quy định nền tảng được thiết lập trong những điều khoản đầu tiên của Pháp lệnh:
1. Vai trò và mục tiêu của thể dục, thể thao (Điều 1)
- Xác định thể dục, thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, gắn liền với việc xây dựng con người mới phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần.
- Mục tiêu cốt lõi là nâng cao sức khỏe, thể lực, tầm vóc, tăng cường tuổi thọ của người Việt Nam, đồng thời bồi dưỡng ý chí, đạo đức và lối sống lành mạnh.
- Phục vụ đắc lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế của thể thao Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Chính sách phát triển thể dục, thể thao của Nhà nước (Điều 2)
- Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc thống nhất quản lý, quy hoạch và đầu tư ngân sách cho sự nghiệp thể dục, thể thao.
- Thực hiện chính sách xã hội hóa, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, tài trợ, đóng góp cơ sở vật chất cho các hoạt động thể thao.
- Ưu tiên đầu tư phát triển thể dục, thể thao ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm rút ngắn khoảng cách thụ hưởng văn hóa thể thao giữa các vùng miền.
3. Trách nhiệm của toàn xã hội và gia đình (Điều 3)
- Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp và các đơn vị kinh tế có trách nhiệm tổ chức, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động tham gia tập luyện, thi đấu thể thao.
- Nhà trường và các cơ sở giáo dục có nhiệm vụ thực hiện đầy đủ chương trình giáo dục thể chất, tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khóa cho học sinh, sinh viên.
- Gia đình có trách nhiệm chăm lo, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành viên, đặc biệt là trẻ em, thanh thiếu niên tích cực rèn luyện thân thể và lối sống lành mạnh.
4. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thể dục, thể thao (Điều 4)
- Nghiêm cấm việc lợi dụng các hoạt động thể dục, thể thao để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
- Cấm tuyệt đối các hành vi bạo lực, phi thể thao, gian lận kết quả thi đấu, cá độ, đánh bạc dưới mọi hình thức liên quan đến thể thao.
- Nghiêm cấm việc sử dụng các chất kích thích (doping) và các phương pháp bị cấm trong tập luyện và thi đấu thể thao nhằm bảo vệ sức khỏe vận động viên và tính trung thực của thể thao.
- Cấm các hành vi thương mại hóa bất hợp pháp, lợi dụng thể thao để trục lợi cá nhân hoặc tuyên truyền các văn hóa phẩm đồi trụy, không phù hợp với thuần phong mỹ tục.
Hiệu lực thi hành
Lệnh công bố của Chủ tịch nước đánh dấu thời điểm Pháp lệnh Thể dục thể thao năm 2000 chính thức có hiệu lực thi hành, bãi bỏ các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này. Các cơ quan quản lý nhà nước về thể dục thể thao ở trung ương và địa phương có trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung đã được ban hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10/L-CTN | Hà Nội, ngày 09 tháng 10 năm 2000 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỘ PHÁP LỆNH
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Căn cứ vào điều 78 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào điều 51 của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật;
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Thể dục thể thao
Đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa X thông qua ngày 25 tháng 09 năm 2000./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Lệnh công bố Pháp lệnh Thể dục thể thao năm 2000
- Số hiệu: 10/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 09/10/2000
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 42
- Ngày hiệu lực: 09/10/2000
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
