Lệnh của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc công bố Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 là văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu bước hoàn thiện trong hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của ngành Kiểm sát nhân dân Việt Nam. Văn bản này chính thức công bố Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua, nhằm xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Phạm vi áp dụng của văn bản bao gồm toàn bộ hệ thống Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Viện kiểm sát quân sự các cấp, các Kiểm sát viên, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
Nội dung cốt lõi của Lệnh công bố và các điều khoản đầu của Pháp lệnhDựa trên nội dung công bố và các quy định ban đầu từ Điều 1 đến Điều 4 của Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, các chính sách và quy định cốt lõi được thể hiện chi tiết như sau:
- Vị trí, vai trò pháp lý của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Đây là lực lượng nòng cốt thực hiện chức năng hiến định của Viện kiểm sát nhân dân, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
- Tiêu chuẩn bổ nhiệm Kiểm sát viên: Để được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên, công dân Việt Nam phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt bao gồm: trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp; có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực; có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát; có thời gian làm công tác thực tế theo quy định của pháp luật; có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Hệ thống các ngạch Kiểm sát viên: Pháp lệnh phân định rõ ràng hệ thống ngạch Kiểm sát viên nhằm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, bao gồm ba ngạch chính: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (bao gồm tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương); Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (bao gồm huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Quy định này tạo cơ sở cho việc quản lý, quy hoạch và đào tạo cán bộ phù hợp với từng cấp kiểm sát.
- Trách nhiệm và nghĩa vụ của Kiểm sát viên: Kiểm sát viên khi thực hiện nhiệm vụ phải tuyệt đối tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Đồng thời, Kiểm sát viên có nghĩa vụ tôn trọng nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, bảo vệ bí mật nhà nước và bí mật công tác theo quy định.
Lệnh công bố của Chủ tịch nước có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2002, thay thế cho các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này, tạo hành lang pháp lý đồng bộ cho hoạt động của đội ngũ Kiểm sát viên trong giai đoạn mới.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 17/2002/L-CTN | Hà Nội, ngày 11 tháng 10 năm 2002 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ PHÁP LỆNH KIỂM SÁT VIÊN VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN.
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội Khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 19 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 51 của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân.
Đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI thông qua ngày 04 tháng 10 năm 2002./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
Lệnh công bố Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
- Số hiệu: 17/2002/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 11/10/2002
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 60
- Ngày hiệu lực: 11/10/2002
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
