Lệnh công bố Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004 do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nhằm chính thức công bố và đưa vào áp dụng Pháp lệnh Giống cây trồng đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc quản lý, bảo tồn, phát triển và khai thác hiệu quả nguồn giống cây trồng, phục vụ phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Văn bản xác định rõ giới hạn pháp lý và các chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của các quy định về giống cây trồng, cụ thể:
- Phạm vi điều chỉnh: Pháp lệnh quy định về quản lý các hoạt động liên quan đến giống cây trồng bao gồm việc bảo tồn nguồn gen giống cây trồng; nghiên cứu, chọn, tạo, khảo nghiệm, kiểm định, công nhận giống cây trồng mới; sản xuất, kinh doanh giống cây trồng; quản lý chất lượng giống cây trồng và các hoạt động dịch vụ khác liên quan đến giống cây trồng nông nghiệp, lâm nghiệp và các loài thực vật hoang dã được thuần hóa.
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức và cá nhân nước ngoài có hoạt động liên quan đến giống cây trồng trên lãnh thổ Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên của Pháp lệnh tập trung thiết lập các khái niệm cơ bản, nguyên tắc chủ đạo và định hướng quản lý nhà nước đối với ngành giống cây trồng:
1. Phạm vi điều chỉnh của hoạt động giống cây trồng (Điều 1)
Điều khoản này khẳng định vai trò quản lý nhà nước toàn diện đối với chuỗi giá trị giống cây trồng. Nhà nước không chỉ quản lý khâu sản xuất, thương mại mà còn chú trọng ngay từ khâu bảo tồn nguồn gen quý hiếm, nghiên cứu lai tạo công nghệ cao, khảo nghiệm nghiêm ngặt trước khi đưa ra thị trường nhằm bảo đảm an ninh lương thực và an toàn sinh học.
2. Đối tượng áp dụng và nguyên tắc ưu tiên luật quốc tế (Điều 2)
Quy định này tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào lĩnh vực giống cây trồng. Đồng thời, việc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế thể hiện tinh thần hội nhập sâu rộng của Việt Nam trong bối cảnh thương mại toàn cầu, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với giống cây trồng mới.
3. Hệ thống giải thích thuật ngữ chuyên ngành (Điều 3)
Để bảo đảm tính thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, văn bản đưa ra các định nghĩa chuẩn xác về các khái niệm kỹ thuật và pháp lý:
- Giống cây trồng: Là một quần thể cây trồng thuộc một cấp phân loại thực vật thấp nhất, có tính di truyền đồng nhất, ổn định qua các thế hệ nhân giống và có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện của các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định.
- Nguồn gen giống cây trồng: Là các cây trồng sống hoặc các bộ phận của chúng có khả năng di truyền để tạo ra giống cây trồng mới.
- Giống cây trồng mới: Là giống cây trồng mới được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, có tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có giá trị canh tác, giá trị sử dụng.
- Khảo nghiệm giống cây trồng: Là quá trình theo dõi, đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu sâu bệnh và tính thích ứng của giống cây trồng trong những điều kiện cụ thể.
4. Các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động giống cây trồng (Điều 4)
Hoạt động giống cây trồng phải tuân thủ các nguyên tắc chiến lược sau:
- Bảo đảm phát triển ngành giống cây trồng theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước, gắn liền với việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Kết hợp giữa công nghệ hiện đại với kinh nghiệm truyền thống của nhân dân trong việc chọn, tạo và nhân giống cây trồng.
- Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư cho nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cao, bảo tồn nguồn gen quý hiếm và phát triển các vùng sản xuất giống tập trung.
- Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, chọn tạo, sản xuất và kinh doanh giống cây trồng.
Hiệu lực thi hành
Lệnh công bố của Chủ tịch nước đưa Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004 vào hiệu lực thi hành theo đúng thời hạn quy định của pháp luật, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho công tác quản lý chuyên ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 03/2004/L-CTN | Hà Nội , ngày 05 tháng 04 năm 2004 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ PHÁP LỆNH CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 19 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 51 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Giống cây trồng.
Đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI thông qua ngày 24 tháng 03 năm 2004./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Pháp lệnh giống cây trồng năm 2004
- 3Hiến pháp năm 1992
- 4Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 5Tiêu chuẩn ngành 04TCN 147:2006 về tiêu chuẩn công nhận giống cây trồng lâm nghiệp do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
Lệnh công bố Pháp lệnh Giống cây trồng năm 2004
- Số hiệu: 03/2004/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 05/04/2004
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 16
- Ngày hiệu lực: 05/04/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
