Lệnh của Chủ tịch nước công bố Pháp lệnh Dự trữ quốc gia năm 2004 là văn bản pháp lý quan trọng do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nhằm công bố Pháp lệnh Dự trữ quốc gia đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 4 năm 2004. Văn bản này đánh dấu bước hoàn thiện thể chế pháp luật về dự trữ quốc gia, phục vụ các mục tiêu an ninh, quốc phòng và an sinh xã hội.
Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng
Pháp lệnh quy định về việc hình thành, quản lý, bảo quản, sử dụng dự trữ quốc gia; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động dự trữ quốc gia. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có liên quan đến hoạt động dự trữ quốc gia.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
- Mục tiêu của dự trữ quốc gia (Điều 1 và Điều 2): Dự trữ quốc gia là nguồn lực dự phòng của Nhà nước nhằm chủ động đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh; và tham gia bình ổn thị trường, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước.
- Nguyên tắc quản lý dự trữ quốc gia (Điều 3): Hoạt động dự trữ quốc gia phải được quản lý chặt chẽ, thống nhất theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước; bảo đảm an toàn, bí mật theo quy định của pháp luật; chủ động, kịp thời trong việc đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách.
- Chính sách của Nhà nước về dự trữ quốc gia (Điều 4): Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, trang thiết bị bảo quản hiện đại cho hệ thống dự trữ quốc gia; khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ bảo quản hàng dự trữ quốc gia.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh Dự trữ quốc gia năm 2004 có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc tổ chức và vận hành hệ thống dự trữ quốc gia trong thời kỳ mới.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 05/2004/L-CTN | Hà Nội , Ngày 12 tháng 05 năm 2004 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ PHÁP LỆNH CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 19 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 51 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Dự trữ quốc gia.
Đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI thông qua ngày 29 tháng 04 năm 2004./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 4Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 5Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
- 6Pháp lệnh Dự trữ Quốc gia năm 2004
Lệnh công bố Pháp lệnh Dự trữ quốc gia 2004
- Số hiệu: 05/2004/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 12/05/2004
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 12/05/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
