Lệnh công bố Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 2004 là văn bản pháp lý quan trọng do Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nhằm chính thức công bố Pháp lệnh Dân quân tự vệ đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29 tháng 4 năm 2004. Văn bản này đặt nền móng pháp lý vững chắc cho việc xây dựng, củng cố và phát huy vai trò của lực lượng vũ trang quần chúng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Pháp lệnh áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, mọi công dân Việt Nam và lực lượng dân quân tự vệ trong cả nước.
Nội dung Lệnh công bố của Chủ tịch nước
Lệnh của Chủ tịch nước ghi nhận việc công bố Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 2004, xác định tính hiệu lực thi hành của Pháp lệnh trên toàn quốc sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua, thể hiện sự thống nhất và trang trọng trong quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
Vị trí, vai trò của lực lượng Dân quân tự vệ (Điều 1)
- Dân quân tự vệ được xác định là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác. Đây là một bộ phận cấu thành quan trọng của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Lực lượng này chịu sự quản lý, điều hành của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp, sự chỉ huy thống nhất của Bộ Quốc phòng và sự chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự địa phương nhằm bảo vệ Đảng, chính quyền, tính mạng, tài sản của nhân dân và tài sản của Nhà nước ở cơ sở.
Thành phần lực lượng Dân quân tự vệ (Điều 2)
- Lực lượng dân quân: Được tổ chức ở cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), gắn liền với địa bàn dân cư và đời sống sinh hoạt của nhân dân địa phương.
- Lực lượng tự vệ: Được tổ chức ở các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức kinh tế (gọi chung là cơ quan, tổ chức), gắn liền với nơi làm việc, lao động, sản xuất và học tập.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Dân quân tự vệ (Điều 3)
- Đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước từ trung ương đến địa phương.
- Tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh tại địa phương, cơ sở.
- Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ theo hướng vững mạnh, rộng khắp, có số lượng phù hợp, chất lượng chính trị cao, tổ chức biên chế chặt chẽ, trang bị vũ khí thích hợp và có năng lực hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.
Nhiệm vụ của lực lượng Dân quân tự vệ (Điều 4)
- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa phương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển và các lực lượng khác bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh biên giới, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.
- Phối hợp với lực lượng Công an nhân dân, các lực lượng khác trên địa bàn giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở cơ sở; tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc tại địa phương.
- Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Tích cực tham gia thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn, bảo vệ rừng và bảo vệ môi trường.
- Thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh khác theo quy định cụ thể của pháp luật.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 2004 có hiệu lực thi hành kể từ ngày được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho công tác quốc phòng, quân sự địa phương, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 07/2004/L-CTN | Hà Nội , Ngày 12 tháng 05 năm 2004 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ PHÁP LỆNH CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 19 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 51 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Dân quân tự vệ.
Đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI thông qua ngày 29 tháng 04 năm 2004./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 4Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 5Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
- 6Pháp lệnh Dân quân tự vệ năm 2004
Lệnh công bố Pháp lệnh Dân quân tự vệ 2004
- Số hiệu: 07/2004/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 12/05/2004
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 12/05/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
