Lệnh công bố Luật người cao tuổi năm 2009 được ban hành bởi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm công bố Luật người cao tuổi đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc bảo vệ quyền lợi, chăm sóc sức khỏe và phát huy vai trò của thế hệ người cao tuổi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Đồng thời, quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân, gia đình và toàn xã hội trong việc thực hiện các chính sách liên quan đến người cao tuổi.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
1. Phạm vi điều chỉnh của Luật (Điều 1)
- Xác định rõ ràng các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người cao tuổi trong đời sống xã hội.
- Quy định trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội trong việc phụng dưỡng, chăm sóc sức khỏe, tinh thần và phát huy vai trò của người cao tuổi.
- Quy định về tổ chức, hoạt động và vai trò của Hội Người cao tuổi Việt Nam trong việc đại diện cho ý chí, nguyện vọng của người cao tuổi.
2. Định nghĩa pháp lý về người cao tuổi (Điều 2)
- Người cao tuổi được luật định là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Đây là căn cứ pháp lý duy nhất để áp dụng các chế độ, chính sách ưu đãi và bảo trợ xã hội.
3. Quyền và nghĩa vụ của người cao tuổi (Điều 3)
- Về quyền lợi: Người cao tuổi được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khỏe; được sống chung với con cháu và được tôn trọng quyền tự quyết về nơi ở; được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ công cộng, khám bệnh, chữa bệnh; được tạo điều kiện tham gia các hoạt động văn hóa, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí; được truyền thụ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm cho thế hệ trẻ.
- Về nghĩa vụ: Người cao tuổi có trách nhiệm nêu gương sáng về phẩm chất đạo đức, lối sống mẫu mực; giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc; truyền đạt kinh nghiệm quý báu cho thế hệ sau; nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
4. Chính sách của Nhà nước đối với người cao tuổi (Điều 4)
- Nhà nước cam kết bố trí ngân sách hằng năm phù hợp để thực hiện các chính sách chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi.
- Thực hiện bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi theo quy định, đặc biệt ưu tiên nhóm đối tượng cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi thuộc hộ nghèo hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
- Lồng ghép các chính sách dành cho người cao tuổi vào chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và quốc gia.
- Khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, xây dựng cơ sở chăm sóc, cung cấp dịch vụ phục vụ người cao tuổi.
- Tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi tiếp tục đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm cho xã hội và tham gia vào các hoạt động kinh tế phù hợp với sức khỏe.
Hiệu lực thi hành
Lệnh công bố có hiệu lực cùng thời điểm với Luật người cao tuổi năm 2009, chính thức phát sinh hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2010.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 16/2009/L-CTN | Hà Nội, ngày 04 tháng 12 năm 2009 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Điều 91 của Luật tổ chức Quốc hội;
Căn cứ Điều 57 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ
Luật người cao tuổi
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009./.
|
| CHỦ TỊCH |
Lệnh công bố Luật người cao tuổi năm 2009
- Số hiệu: 16/2009/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 04/12/2009
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 131 đến số 132
- Ngày hiệu lực: 04/12/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
