Ngày 29 tháng 06 năm 2009, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Lệnh số 09/2009/L-CTN về việc công bố Luật lý lịch tư pháp số 28/2009/QH12, được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 17 tháng 06 năm 2009. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp Phiếu lý lịch tư pháp tại Việt Nam, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng như hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tố tụng hình sự.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật lý lịch tư pháp quy định chi tiết về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục quản lý lý lịch tư pháp; việc tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp; tổ chức và quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; cũng như việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu. Đối tượng áp dụng của Luật bao gồm công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam, các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động lý lịch tư pháp.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
1. Phạm vi điều chỉnh của Luật (Điều 1)
- Xác định rõ giới hạn điều chỉnh của Luật bao gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến quản lý lý lịch tư pháp, từ khâu thu thập, cập nhật thông tin đến khâu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
- Quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và các cơ quan, tổ chức liên quan trong việc cung cấp, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp.
2. Giải thích từ ngữ chuyên ngành (Điều 2)
- Lý lịch tư pháp: Là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và việc cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản.
- Phiếu lý lịch tư pháp: Là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích; bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.
- Thông tin lý lịch tư pháp về án tích: Bao gồm các thông tin về người bị kết án, tội danh, hình phạt, tình trạng thi hành án và các quyết định liên quan của Tòa án.
3. Mục đích quản lý lý lịch tư pháp (Điều 3)
- Đáp ứng yêu cầu của cá nhân trong việc chứng minh mình có hay không có án tích, ghi nhận việc xóa án tích, tạo điều kiện thuận lợi cho người đã chấp hành xong bản án tái hòa nhập cộng đồng.
- Hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự và thống kê tư pháp hình sự, giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định nhân thân của người phạm tội một cách chính xác và nhanh chóng.
- Hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật.
4. Các nguyên tắc quản lý lý lịch tư pháp (Điều 4)
- Bảo đảm tôn trọng quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, đặc biệt là quyền bảo mật thông tin đời tư theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
- Thông tin lý lịch tư pháp phải được cập nhật, xử lý đầy đủ, chính xác, kịp thời và liên tục từ các cơ quan có thẩm quyền.
- Việc quản lý, khai thác và sử dụng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp phải tuân thủ đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nghiêm cấm mọi hành vi sử dụng thông tin trái pháp luật hoặc xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của cá nhân.
Hiệu lực thi hành
Lệnh của Chủ tịch nước về việc công bố Luật lý lịch tư pháp có hiệu lực thi hành cùng thời điểm với Luật lý lịch tư pháp năm 2009, chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2010.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 04/2009/L-CTN | Hà Nội, ngày 29 tháng 06 năm 2009 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ Điều 91 của Luật tổ chức Quốc hội;
Căn cứ Điều 57 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật lý lịch tư pháp
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2009./.
|
| CHỦ TỊCH |
Lệnh công bố Luật lý lịch tư pháp 2009
- Số hiệu: 04/2009/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 29/06/2009
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 371 đến số 372
- Ngày hiệu lực: 29/06/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
