Lệnh công bố Luật đê điều năm 2006 được ban hành bởi Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm công bố Luật đê điều số 79/2006/QH11 đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 09 tháng 11 năm 2006. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, đặt nền móng cho công tác quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dụng hệ thống đê điều trên phạm vi cả nước.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Luật đê điều năm 2006 điều chỉnh toàn diện các hoạt động liên quan đến quy hoạch đê điều, đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp, kiên cố hóa, bảo vệ, sử dụng đê điều và hộ đê. Đối tượng áp dụng của văn bản bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài có hoạt động liên quan đến hệ thống đê điều trên lãnh thổ Việt Nam.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Phần mở đầu của Luật thiết lập các nguyên tắc pháp lý căn bản, định nghĩa chuyên ngành và phân loại hệ thống đê điều làm cơ sở cho toàn bộ các quy định chi tiết phía sau:
- Điều 1 - Phạm vi điều chỉnh: Xác định rõ giới hạn điều chỉnh của Luật đối với mọi hoạt động từ khâu quy hoạch, đầu tư xây dựng, tu bổ, nâng cấp, kiên cố hóa cho đến việc bảo vệ, khai thác sử dụng và công tác hộ đê khẩn cấp.
- Điều 2 - Đối tượng áp dụng: Khẳng định tính bao quát của Luật, áp dụng bắt buộc đối với mọi chủ thể (cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước) có hành vi hoặc hoạt động trực tiếp, gián tiếp ảnh hưởng đến an toàn đê điều tại Việt Nam.
- Điều 3 - Giải thích từ ngữ: Chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ chuyên ngành để đảm bảo tính thống nhất trong áp dụng pháp luật, bao gồm các khái niệm cốt lõi như:
- Đê: Công trình ngăn nước lũ của sông hoặc ngăn nước biển, được phân loại và phân cấp theo quy định kỹ thuật.
- Hành lang bảo vệ đê: Vùng đất giới hạn được thiết lập sát chân đê nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho cấu trúc đê và phục vụ công tác tuần tra, hộ đê.
- Hộ đê: Các biện pháp khẩn cấp huy động lực lượng, phương tiện để bảo vệ đê khi có nguy cơ bị sạt lở, vỡ đê do thiên tai.
- Điều 4 - Phân loại và phân cấp đê điều: Quy định nguyên tắc phân loại đê điều dựa trên quy mô, vị trí địa lý, tầm quan trọng đối với an ninh quốc phòng và mức độ bảo vệ dân cư, kinh tế. Hệ thống đê được phân chia thành đê cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV và cấp V. Việc phân cấp này là căn cứ kỹ thuật để áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế, xây dựng và phân cấp thẩm quyền quản lý hành chính từ trung ương đến địa phương.
Hiệu lực thi hành
Luật đê điều năm 2006 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007, thay thế cho Pháp lệnh đê điều năm 2000, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về phòng chống thiên tai và bảo vệ công trình hạ tầng quốc gia.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 24/2006/L-CTN | Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2006 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 91 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật đê điều
Đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
Lệnh công bố Luật đê điều 2006
- Số hiệu: 24/2006/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 12/12/2006
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Nguyễn Minh Triết
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 12/12/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
