Lệnh công bố Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được ban hành nhằm chính thức công bố và đưa vào triển khai thực hiện đạo luật quy định về công tác bầu cử cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Văn bản này đặt nền móng pháp lý quan trọng cho việc tổ chức, xây dựng và kiện toàn bộ máy chính quyền địa phương các cấp thông qua hoạt động bầu cử dân chủ, khách quan và đúng pháp luật.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với toàn thể công dân Việt Nam có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức phụ trách bầu cử trên phạm vi cả nước trong việc thực hiện quyền bầu cử, ứng cử và tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu tiên (Từ Điều 1 đến Điều 4)
1. Nguyên tắc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 1)
- Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được tiến hành theo bốn nguyên tắc dân chủ cơ bản: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
- Nguyên tắc phổ thông: Bảo đảm mọi công dân không bị phân biệt đối xử đều có quyền tham gia bầu cử khi đạt độ tuổi quy định.
- Nguyên tắc bình đẳng: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri và chỉ được bỏ một phiếu bầu, giá trị phiếu bầu của mọi cử tri là ngang nhau.
- Nguyên tắc trực tiếp: Cử tri tự mình đi bầu, trực tiếp bỏ phiếu vào hòm phiếu mà không qua người trung gian hoặc đại diện, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.
- Nguyên tắc bỏ phiếu kín: Bảo đảm sự tự do lựa chọn của cử tri, không ai được biết cử tri bầu cho ai, bảo vệ tính khách quan của kết quả bầu cử.
2. Quyền bầu cử và ứng cử của công dân (Điều 2)
- Quy định rõ ràng về độ tuổi tối thiểu để thực hiện quyền công dân: Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
- Khẳng định quyền bình đẳng tuyệt đối của công dân trong bầu cử và ứng cử, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp hay thời hạn cư trú.
3. Tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 3)
- Đại biểu Hội đồng nhân dân phải là người trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có tinh thần đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
- Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe và điều kiện để thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân.
- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân.
4. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử (Điều 4)
- Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện cuộc bầu cử theo đúng quy định của pháp luật.
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên có vai trò quan trọng trong việc hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân; đồng thời tham gia giám sát việc tổ chức bầu cử.
- Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để cử tri thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của mình.
Hiệu lực thi hành
Lệnh công bố có hiệu lực kể từ ngày ban hành, làm cơ sở pháp lý để triển khai toàn bộ các quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 trên thực tế, bảo đảm tính thống nhất và nghiêm minh của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 22/2003/L-CTN | Hà Nội , ngày 10 tháng 12 năm 2003 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 91 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 4Luật Tổ chức Quốc hội 2001
- 5Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
- 6Luật Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân 2003
- 7Lệnh công bố Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân 2015
Lệnh công bố Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003
- Số hiệu: 22/2003/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 10/12/2003
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 219
- Ngày hiệu lực: 10/12/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
