Luật số 31/2009/QH12 được Quốc hội ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2009 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh năm 2006. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế pháp lý về điện ảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hợp tác đầu tư, nâng cao tính tự chủ và trách nhiệm của các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình, đồng thời tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.
Dưới đây là tóm tắt chi tiết và chuyên sâu các nội dung sửa đổi, bổ sung cốt lõi của văn bản pháp luật này:
- Quy định về hợp tác đầu tư nước ngoài trong điện ảnh
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép hợp tác đầu tư với các doanh nghiệp sản xuất, phát hành và phổ biến phim của Việt Nam.
- Các hình thức hợp tác đầu tư được thừa nhận bao gồm: hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh.
- Đối với hình thức thành lập doanh nghiệp liên doanh, tỷ lệ phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài được giới hạn tối đa không vượt quá 51% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh đó.
- Tiêu chuẩn nhân sự và bãi bỏ thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp sản xuất phim
- Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc của doanh nghiệp sản xuất phim bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn năng lực theo quy định pháp luật.
- Hồ sơ đề nghị thành lập doanh nghiệp phải đính kèm bản lý lịch cá nhân của người được đề nghị làm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc, có xác nhận hợp lệ từ cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
- Bãi bỏ hoàn toàn quy định tại khoản 3 Điều 15 của Luật Điện ảnh cũ nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính cho doanh nghiệp sản xuất phim.
- Cơ chế sản xuất phim sử dụng ngân sách nhà nước
- Đối với các dự án phim có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, chủ đầu tư bắt buộc phải thành lập Hội đồng thẩm định kịch bản để đánh giá chất lượng nội dung trước khi tiến hành sản xuất.
- Chủ đầu tư được quyền quyết định áp dụng hình thức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu để lựa chọn dự án sản xuất phim tối ưu, bảo đảm cả về chất lượng nghệ thuật lẫn hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể việc thực hiện nội dung này.
- Tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm của các Đài Truyền hình, Đài Phát thanh - Truyền hình
- Quyết định sản xuất phim: Người đứng đầu Đài Truyền hình Việt Nam, các đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình có giấy phép hoạt động báo chí được quyền tự quyết định đầu tư và tổ chức sản xuất phim truyền hình để phát sóng phù hợp với quy định pháp luật.
- Giá trị pháp lý của Quyết định phát sóng: Quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình có giá trị pháp lý tương đương với giấy phép phổ biến phim của cơ quan quản lý nhà nước về điện ảnh trong nhiều hoạt động như: bán, cho thuê, in sang, nhân bản, xuất khẩu, chiếu phim, quảng cáo và tham gia các liên hoan phim.
- Thành lập Hội đồng thẩm định riêng: Người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình tự thành lập Hội đồng thẩm định phim của đài mình để tự chịu trách nhiệm về nội dung phát sóng.
- Lưu trữ phim tự chủ: Các cơ sở lưu trữ phim thuộc đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình có trách nhiệm và quyền hạn tự lưu trữ các tác phẩm phim do đài mình sản xuất hoặc sở hữu.
- Thắt chặt quản lý hoạt động phát hành, phổ biến và xuất nhập khẩu phim
- Điều kiện lưu hành sản phẩm: Chỉ được phép bán, cho thuê, in sang hoặc nhân bản các loại phim nhựa, băng phim, đĩa phim đã được cấp giấy phép phổ biến hoặc đã có quyết định phát sóng chính thức.
- Yêu cầu dán nhãn kiểm soát: Tất cả các sản phẩm băng phim, đĩa phim lưu hành trên thị trường hoặc xuất khẩu đều phải được dán nhãn kiểm soát do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cấp.
- Hợp đồng bản quyền: Việc in sang, nhân bản phim bắt buộc phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản ký kết trực tiếp với chủ sở hữu hợp pháp của bộ phim.
- Quyền xuất nhập khẩu: Doanh nghiệp sản xuất phim được quyền xuất khẩu, nhập khẩu phim theo quy định chung. Các đài truyền hình được quyền xuất khẩu phim do mình sản xuất và nhập khẩu phim nước ngoài để phục vụ mục đích phát sóng trên đài.
- Phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép phổ biến phim
- Chính phủ thực hiện phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp giấy phép phổ biến phim dựa trên năng lực và số lượng phim sản xuất, nhập khẩu thực tế của địa phương.
- Phạm vi phân cấp bao gồm: phim do các cơ sở sản xuất phim của địa phương thực hiện, phim của các cơ sở điện ảnh tư nhân đóng trên địa bàn, và phim xuất khẩu do các đài truyền hình địa phương sản xuất đã có quyết định phát sóng.
- Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động của các Hội đồng thẩm định phim.
- Quy định về quảng cáo phim và tham gia liên hoan phim
- Quảng cáo phim: Doanh nghiệp sản xuất và các đài truyền hình được giới thiệu thông tin phim trong quá trình chuẩn bị và sản xuất. Tuy nhiên, tuyệt đối không được chiếu toàn bộ nội dung phim để quảng cáo khi chưa có giấy phép phổ biến hoặc quyết định phát sóng.
- Tham gia liên hoan phim: Phim tham dự liên hoan phim trong nước hoặc quốc tế, hội chợ phim, hoặc những ngày phim Việt Nam ở nước ngoài bắt buộc phải có giấy phép phổ biến hoặc quyết định phát sóng.
- Tổ chức liên hoan phim truyền hình: Các đài truyền hình được tổ chức liên hoan phim truyền hình riêng nhưng phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
- Hoạt động thanh tra chuyên ngành và chế tài xử lý vi phạm
- Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng với Thanh tra các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch là các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về điện ảnh.
- Các hành vi vi phạm bị nghiêm cấm và xử lý nghiêm bao gồm:
- Không thành lập Hội đồng thẩm định kịch bản hoặc không tổ chức đấu thầu khi sản xuất phim bằng nguồn ngân sách nhà nước.
- Phát hành, phổ biến, chiếu, phát sóng hoặc xuất khẩu phim khi chưa được cấp giấy phép phổ biến hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình.
- Nhập khẩu phim không đúng các quy định pháp luật hiện hành.
- Cơ sở lưu trữ phim tự ý bán, cho thuê phim khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu phim hoặc chưa có giấy phép phổ biến/quyết định phát sóng hợp lệ.
- Thay đổi danh xưng cơ quan quản lý nhà nước
- Văn bản thực hiện thay thế đồng loạt cụm từ “Bộ Văn hoá - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại tất cả các điều, khoản liên quan trong Luật Điện ảnh để phù hợp với cơ cấu tổ chức mới của Chính phủ.
- Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2009.
- Chính phủ chịu trách nhiệm ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 31/2009/QH12 | Hà Nội, ngày 18 tháng 6 năm 2009 |
LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT ĐIỆN ẢNH
CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 5
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện ảnh số 62/2006/QH11.
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện ảnh.
1. Khoản 2 Điều 13 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền hợp tác đầu tư với doanh nghiệp sản xuất phim, doanh nghiệp phát hành phim và doanh nghiệp phổ biến phim của Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc thành lập doanh nghiệp liên doanh.
Đối với hình thức đầu tư thành lập liên doanh thì phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 51% vốn pháp định.”
2. Điểm b khoản 2 và điểm c khoản 3 Điều 14 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. b) Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 15 của Luật này.
3. c) Lý lịch của người được đề nghị làm Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc doanh nghiệp sản xuất phim có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.”
4. Khoản 3 Điều 24 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“3. Đối với phim sử dụng ngân sách nhà nước, chủ đầu tư dự án sản xuất phim phải thành lập Hội đồng thẩm định kịch bản; được quyết định hình thức đấu thầu theo quy định của pháp luật về đấu thầu để lựa chọn dự án sản xuất phim, bảo đảm chất lượng tác phẩm và hiệu quả kinh tế-xã hội.
Chính phủ quy định cụ thể khoản này.”
5. Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 25. Sản xuất phim truyền hình
Việc sản xuất phim truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam, đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được cấp giấy phép hoạt động báo chí (sau đây gọi chung là đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình) do người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình quyết định đầu tư và tổ chức sản xuất phim để phát sóng trên truyền hình, phù hợp với quy định của pháp luật.”
6. Khoản 2 Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Chỉ được bán, cho thuê phim nhựa, băng phim, đĩa phim đã có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc đã có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình; băng phim, đĩa phim phải được dán nhãn kiểm soát của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.”
7. Khoản 2 Điều 29 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Chỉ được in sang, nhân bản để phát hành phim nhựa, băng phim, đĩa phim đã có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc đã có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình. Việc in sang, nhân bản phim nhựa, băng phim, đĩa phim phải có hợp đồng bằng văn bản với chủ sở hữu phim.”
8. Điểm a khoản 1, khoản 3 và khoản 5 Điều 30 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. a) Phim xuất khẩu phải có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh.
Phim xuất khẩu do Đài truyền hình Việt Nam sản xuất phải có quyết định phát sóng của người đứng đầu Đài truyền hình Việt Nam; phim xuất khẩu do đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được cấp giấy phép hoạt động báo chí sản xuất phải có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh.
Băng phim, đĩa phim xuất khẩu phải được dán nhãn kiểm soát của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;
5. Đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được xuất khẩu phim do mình sản xuất, được nhập khẩu phim để phát sóng trên truyền hình.”
9. Khoản 3 Điều 33 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“3. Tổ chức chiếu phim có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc đã có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
10. Khoản 1 Điều 35 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Phim có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc đã có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình;”
11. Khoản 3 Điều 37 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“3. Phim do đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình sản xuất và nhập khẩu đã có quyết định phát sóng trên đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được phổ biến trên phạm vi cả nước.”
12. Điểm b và điểm c khoản 1 Điều 38 được sửa đổi, bổ sung như sau:
c) Người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình quyết định và chịu trách nhiệm việc phát sóng phim trên đài truyền hình của mình.”
13. Điểm c khoản 1 Điều 39 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“c) Hội đồng thẩm định phim của đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình do người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình thành lập;”
14. Bổ sung khoản 4 Điều 39 như sau:
“4. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định phim quy định tại khoản 1 Điều 39.”
15. Khoản 2 Điều 40 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Việc quảng cáo về phim được quy định như sau:
a) Doanh nghiệp sản xuất phim, đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được giới thiệu những thông tin liên quan đến bộ phim trong quá trình chuẩn bị và sản xuất;
b) Doanh nghiệp sản xuất phim, đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình không được chiếu toàn bộ nội dung phim để quảng cáo khi chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh, chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
16. Điểm d khoản 1 Điều 41, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 41 được sửa đổi, bổ sung như sau:
2. a) Cơ sở sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim, đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được quyền tham gia liên hoan phim quốc tế, hội chợ phim quốc tế, tổ chức những ngày phim Việt Nam ở nước ngoài;
b) Phim tham gia liên hoan phim quốc tế, hội chợ phim quốc tế, những ngày phim Việt Nam ở nước ngoài phải có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình;”
17. Khoản 2 và khoản 3 Điều 42 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“2. Đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình được tổ chức liên hoan phim truyền hình và phải được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chấp thuận, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Thủ tục để được chấp thuận thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Luật này.
3. Phim tham gia liên hoan phim truyền hình phải có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
18. Khoản 4 Điều 46 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“4. Cơ sở lưu trữ phim thuộc đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình lưu trữ phim của đài mình.”
19. Khoản 1 Điều 48 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Thanh tra Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về điện ảnh.”
20. Khoản 6 Điều 49 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“6. Không thành lập Hội đồng thẩm định kịch bản, không tổ chức đấu thầu đối với sản xuất phim sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 24 của Luật này.”
21. Các khoản 1, 5 và 7 Điều 50 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Phát hành phim khi chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.
5. Xuất khẩu phim khi chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.
7. Nhập khẩu phim không đúng quy định tại khoản 2 Điều 30 của Luật này.”
22. Khoản 1 Điều 51 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1. Chiếu phim, phát sóng phim chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
23. Khoản 6 Điều 52 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“6. Cơ sở lưu trữ phim bán, cho thuê phim khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu phim, chưa có giấy phép phổ biến của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về điện ảnh hoặc chưa có quyết định phát sóng của người đứng đầu đài truyền hình, đài phát thanh - truyền hình.”
Thay cụm từ “Bộ Văn hoá - Thông tin” bằng cụm từ “Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch” tại khoản 2 và khoản 3 Điều 9, khoản 2 và khoản 3 Điều 14, khoản 2 và khoản 3 Điều 18, khoản 3 Điều 21, khoản 1 và khoản 3 Điều 23, khoản 2 Điều 32, khoản 1 và khoản 2 Điều 38, khoản 1 Điều 39, Điều 41, khoản 1 và khoản 3 Điều 43, khoản 1 và khoản 3 Điều 44, khoản 2 Điều 46, khoản 5 Điều 47, khoản 3 Điều 49, khoản 3 và khoản 6 Điều 50, khoản 3 Điều 51, khoản 7 Điều 52 của Luật điện ảnh.
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2009.
2. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Decree No. 54/2010/ND-CP of May 21, 2010, detailing a number of articles of cinematography Law No. 62/2006/QH11 and Law No. 31/2009/QH12 amending and supplementing a number of articles of the cinematography Law
- 2Resolution no. 51/2001/NQ-QH10 of December 25, 2001 on amendments and supplements to a number of articles of the 1992 constitution of the socialist republic of Vietnam
- 31992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam
Law No. 31/2009/QH12 of June 18, 2009, amending and supplementing a number of articles of the Cinematography Law
- Số hiệu: 31/2009/QH12
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 18/06/2009
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Phú Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/10/2009
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2023
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
