Hôn nhân đồng giới có được pháp luật Việt Nam thừa nhận?

Cập nhật: 23/03/2021 lúc 17:22:53

Cùng với sự phát triển của các mối quan hệ xã hội, hiện nay các cặp đôi đồng tính trên thế giới và cả ở Việt Nam ngày càng nhiều. Vậy, theo pháp luật Việt Nam, hôn nhân đồng giới có được công nhận? Mời các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây:
 

Pháp luật không cấm kết hôn đồng giới nhưng không thừa nhận

Hiện nay, chưa có văn bản nào quy định cụ thể hôn nhân đồng giới là gì. Tuy nhiên, có thể hiểu hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính.

Trước đây, một trong những trường hợp cấm kết hôn nêu tại Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 là việc cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.

Theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 8 Nghị định 87/2001/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (đã hết hiệu lực):

“Điều 8. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

… …

e) Kết hôn giữa những người cùng giới tính.”

Tuy nhiên, đến Nghị định 82/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (hiện đang có hiệu lực), những người đồng giới kết hôn với nhau không còn bị xử phạt. Quy định này hoàn thoàn phù hợp và thống nhất tinh thần “không thừa nhận mà không còn cấm hôn nhân đồng giới” tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Theo đó, từ ngày 19/6/2014, Quốc hội thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình, quy định về việc kết hôn giữa những người có cùng giới tính được nêu tại khoản 2 Điều 8 Luật Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như sau:

“2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.”

Ngoài ra, khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 giải thích:

“Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.

Như vậy, so với quy định trước đây, hiện nay, Nhà nước không còn cấm những người có cùng giới tính kết hôn mà chỉ “không thừa nhận” mối quan hệ hôn nhân này. Theo đó, những người đồng tính có thể tổ chức đám cưới công khai, sống chung với nhau nhưng không thể thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Khi đó, hôn nhân về mặt pháp lý giữa hai người có cùng giới tính sẽ không tồn tại và không được pháp luật thừa nhận nên không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng; cấp dưỡng; thừa kế; chế độ tài sản chung vợ chồng…

- Về nhân thân: Giữa hai người đồng tính không có ràng buộc về mặt pháp lý, không được cấp đăng ký kết hôn, không được công nhận là vợ, chồng hợp pháp. Bởi vậy quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng… không tồn tại;

- Về quan hệ tài sản: Vì không có quan hệ vợ chồng nên không áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng được quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Nếu phát sinh tranh chấp, tài sản không được chia theo quy định của Bộ luật dân sự.

Như vậy, đến thời điểm 2021, quy định về kết hôn đồng giới tại Việt Nam đã "mở" hơn trước đây mặc dù không còn cấm nhưng Việt Nam cũng không công nhận mối quan hệ này.

Ngọc Hà - BBT. Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam