Giới thiệu chung về Hiệp định
Hiệp định về khoản tín dụng lâu dài giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan được ký kết vào ngày 23 tháng 09 năm 1992. Đây là một văn kiện hợp tác tài chính song phương quan trọng, đặt nền móng cho việc hỗ trợ nguồn lực tài chính từ Thái Lan giúp Việt Nam phát triển cơ sở hạ tầng và phục hồi nền kinh tế trong giai đoạn đầu của quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế.
Thông tin thuộc tính văn bản:
- Tên văn bản: Hiệp định về khoản tín dụng lâu dài giữa Chính phủ Việt Nam và Thái Lan (1992)
- Ngày ký kết: 23/09/1992
- Người ký thay mặt Chính phủ Việt Nam: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm
- Người ký thay mặt Chính phủ Thái Lan: Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Prasong Soonsiri
- Ngôn ngữ văn bản: Tiếng Anh (được lập thành hai bản)
- Hiệu lực: Có hiệu lực kể từ ngày ký
Nội dung chi tiết về giá trị và mục đích sử dụng khoản tín dụng (Điều 1)
Chính phủ Vương quốc Thái Lan cam kết cung cấp một khoản tín dụng ưu đãi trị giá tối đa là 150 triệu Bạt (THB) cho Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy định cụ thể về việc sử dụng khoản tín dụng này bao gồm:
- Đối tượng thực hiện: Khoản tín dụng được cấp thông qua các cơ quan được ủy quyền của Việt Nam (gọi là bên mua) để mua các sản phẩm và dịch vụ có nguồn gốc từ Thái Lan thông qua các công ty Thái Lan (gọi là bên bán).
- Mục đích sử dụng: Phần lớn giá trị của khoản tín dụng 150 triệu Bạt này sẽ được ưu tiên sử dụng để mua sắm các sản phẩm và dịch vụ phục vụ trực tiếp cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam.
- Thời hạn thực hiện: Toàn bộ các giao dịch mua bán thuộc phạm vi khoản tín dụng này phải được thực hiện và hoàn tất trong vòng một năm kể từ ngày Hiệp định chính thức có hiệu lực.
Cơ chế thanh toán và lãi suất của khoản tín dụng (Điều 2)
Để đảm bảo tính thực thi và quản lý dòng tiền hiệu quả, hai bên thống nhất các đầu mối giao dịch và lộ trình hoàn trả nợ gốc, lãi suất chi tiết như sau:
- Đại diện giao dịch: Ngân hàng Việt Nam và Ngân hàng Krung Thai của Thái Lan được ủy quyền đại diện cho mỗi nước để tạo điều kiện thuận lợi và trực tiếp tiến hành các giao dịch tài chính liên quan đến khoản tín dụng dài hạn này.
- Đồng tiền giao dịch: Tất cả các giao dịch thanh toán, hạch toán phát sinh từ Hiệp định đều được thực hiện bằng đồng Bạt Thái Lan (THB).
- Lãi suất áp dụng: Lãi suất được áp dụng ở mức 3%/năm tính trên số lượng hàng hóa đã sử dụng và còn tồn đọng. Việc tính toán lãi suất dựa trên cơ sở một năm có 360 ngày và số ngày thực tế phụ trội. Tiền lãi sẽ được thanh toán định kỳ 6 tháng một lần, bắt đầu tính từ ngày giao hàng lần cuối.
- Phương thức hoàn trả nợ gốc cho các dự án cơ sở hạ tầng: Việc thanh toán nợ gốc đối với các sản phẩm và dịch vụ phục vụ dự án cơ sở hạ tầng sẽ được chia đều thành 20 lần thanh toán bằng nhau, định kỳ 6 tháng một lần. Thời gian bắt đầu hoàn trả là 10 năm rưỡi (10,5 năm) kể từ ngày giao hàng lần cuối.
- Phương thức hoàn trả nợ gốc cho các sản phẩm chủ chốt: Đối với việc mua các sản phẩm chủ chốt và dịch vụ liên quan, nợ gốc được chia đều thành 10 lần thanh toán bằng nhau, định kỳ 6 tháng một lần. Thời gian bắt đầu hoàn trả là 5 năm rưỡi (5,5 năm) kể từ ngày giao hàng lần cuối.
- Phương thức hoàn trả nợ gốc cho mục đích phục hồi kinh tế: Đối với các sản phẩm và dịch vụ liên quan trực tiếp đến công cuộc phục hồi kinh tế của Việt Nam, nợ gốc sẽ được chia đều thành 4 lần thanh toán bằng nhau, định kỳ 6 tháng một lần. Thời gian bắt đầu hoàn trả là 6 tháng kể từ ngày giao hàng lần cuối.
Quy định về danh mục hàng hóa và hợp đồng thương mại (Điều 3)
Hiệp định thiết lập các nguyên tắc quản lý danh mục mua sắm và ràng buộc hợp đồng giữa các bên:
- Phê chuẩn danh mục: Danh sách cụ thể các mặt hàng và dịch vụ được phép mua sắm trong khuôn khổ Hiệp định này phải được các cơ quan đại diện có thẩm quyền của cả hai nước cùng phê chuẩn.
- Ràng buộc hợp đồng: Các điều khoản chi tiết trong hợp đồng mua bán sẽ do bên mua (phía Việt Nam) hoàn tất và bên bán (phía Thái Lan) có trách nhiệm đáp ứng đầy đủ, phù hợp với các nội dung và nguyên tắc đã được thỏa thuận tại Hiệp định này.
Cam kết bảo lãnh của Chính phủ và cơ chế tham vấn (Điều 4)
Để đảm bảo uy tín tín dụng quốc gia và giải quyết các vướng mắc phát sinh, Chính phủ Việt Nam đưa ra các cam kết mạnh mẽ:
- Trách nhiệm bảo lãnh thanh toán: Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đứng ra đảm bảo bên mua (các cơ quan được ủy quyền của Việt Nam) phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ và đúng hạn mọi nghĩa vụ tài chính phát sinh từ hợp đồng mua bán đã ký kết.
- Cơ chế trao đổi ý kiến: Liên quan đến việc thực hiện lộ trình thanh toán nợ gốc theo 3 trình tự khác nhau (đối với cơ sở hạ tầng, sản phẩm chủ chốt và phục hồi kinh tế), Chính phủ Việt Nam đồng ý sẽ tiến hành trao đổi ý kiến trực tiếp với Chính phủ Vương quốc Thái Lan vào một thời điểm sớm nhất để thống nhất phương án giải quyết cụ thể.
Cơ chế giải quyết tranh chấp và điều khoản thi hành (Điều 5 & Điều 6)
Các điều khoản cuối cùng của Hiệp định tập trung vào việc duy trì quan hệ hữu nghị và xác định hiệu lực pháp lý:
- Giải quyết tranh chấp (Điều 5): Mọi sự khác biệt, bất đồng phát sinh liên quan đến việc giải thích thuật ngữ hoặc quá trình thực hiện Hiệp định sẽ được hai bên giải quyết một cách thiện chí bằng con đường hòa giải thông qua các cuộc thảo luận hoặc thương lượng trực tiếp giữa hai Chính phủ.
- Hiệu lực thi hành (Điều 6): Hiệp định chính thức có hiệu lực pháp lý kể từ ngày ký (ngày 23 tháng 09 năm 1992). Đại diện được ủy quyền hợp pháp của hai Chính phủ đã thực hiện ký kết văn bản này tại thời điểm nêu trên.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
HIỆP ĐỊNH
VỀ KHOẢN TÍN DỤNG LÂU DÀI GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ VƯƠNG QUỐC THÁI LAN (1992)
Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Thái Lan,
Với mong muốn tăng cường mối quan hệ hữu nghị tồn tại giữa hai nước.
Theo bản báo cáo chung do chủ tịch Hội đồng Bộ Trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt và Thủ Tướng Vương Quốc Thái Lan đã ký ngày 16/01/92 tại Hà Nội, có những nội dung chính sau:
Cả Hai bên đã đồng ý khám phá hơn nữa những phương thức tiếp cận mới tăng cường quan hệ kinh tế giữa hai nước. Về vấn đề này Thái Lan đã đề nghị giúp một khoản tín dụng dài hạn 150 triệu Bạt cho chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua việc mua các sản phẩm và dịch vụ của Thái. Đề nghị này đã được phía Việt Nam chấp thuận.
Hai bên đã nhất trí như sau:
Điều 1:
1. Chính phủ vương quốc Thái Lan sẽ cung cấp một khoản tín dụng trị giá 150 triệu Bạt cho Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua các có quan được uỷ quyền (dưới đây gọi là bên mua) mua các sản phẩm và dịch vụ gốc từ Thái Lan thông qua các công ty Thái, (dưới đây gọi là bên bán), để sử dụng ở Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, lên tới 150 triệu Bạt, khoản tín dụng này phần lớn sẽ được dùng để mua các sản phẩm và dịch vụ cho các dự án cơ sở hạ tầng.
2. Vụ mua bán đó sẽ được thực hiện trong vòng một năm kể từ khi bản hiệp định này có hiệu lực.
Điều 2:
1. Chính phủ nước CHXHCNVN và CP Vương quốc Thái Lan sẽ uỷ quyền cho ngân hàng Việt Nam và ngân hàng KrungThái Lan đại diện cho mỗi nước, nhằm tạo điều kiện thuận lợi và tiến hành các giao dịch của khoản tín dụng dài hạn được ghi rõ trong bản hiệp định này.
2. Việc thanh toán cho các khoản nợ chính từ việc mua các sản phẩm và dịch vụ Thái theo điều 1 cho các dự án cơ sở họ tầng của Việt Nam sẽ được thực hiện thành 20 lần như nhau, 6 tháng 1 lần. Việc thanh toán này sẽ khởi đầu 10 năm rưỡi kể từ ngày giao hàng lẫn cuối.
3. Việc thanh toán các khoản nợ chính từ việc mua các sản phẩm chủ chốt và các dịch vụ liên quan theo điều 1 sẽ được thực hiện thành 10 lần như nhau, 6 tháng 1 lần, việc thanh toán này sẽ bắt đầu 5 năm rưỡi kể từ ngày giao hàng lẫn cuối.
4. Việc thanh toán các khoản nợ chính từ việc mua các sản phẩm và các dịch vụ liên quan cho việc phục hồi kinh tế của nươc CHXHCNVN sẽ được thực hiện 4 lần như nhau, 6 tháng 1 lần, việc thanh toán này sẽ bắt đầu 6 tháng kể từ ngày giao hàng lần cuối.
5. Số lượng hàng sử dụng và tồn đọng sẽ có lãi suất 3% 1 năm. Việc thanh toán lãi suất đó sẽ được thực hiện 6 tháng 1 lần kể từ ngày giao hàng lần cuối. Việt tính lãi suất sẽ được dựa theo năm (360 ngày) và những ngày phụ trội.
6. Những việc giao dịch theo hiệp định này sẽ được dùng bằng tiền bạt
Điều 3
Danh sách các mặt hàng và dịch vụ được mua trong hiệp định sẽ do các cơ quan đại diện của hai nước phê chuẩn.
Các điều khoản trong các hợp đồng bán sẽ được bên mua hoàn tất và bên bán sẽ đáp ứng theo nội dung của bản hiệp định.
Điều 4:
Chính phủ nước CHXHCNVN đảm bảo bên mua phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ trong hoàn thành hợp đồng bán theo nội dung của Điều 3
Như việc thực hiện Điều 2 đoạn 2,3,4,5 sẽ theo 3 trình tự, chính phủ CHXHCNVN sẽ đồng ý trao đổi y kiến với CPVQ Thái Lan vào một ngày gần đầy để giải quyết vẫn đề đó.
Điều 5:
Tất cả những sự khác nhau về thuật ngữ và thực hiện bản hiệp định này sẽ được giải quyết bằng con đường hoà giải thông qua các cuộc thảo luận hay thương lượng.
Điều 6:
Hiệp định này sẽ có hiệu lực kể từ ngày ký
Những người có mặt và ký dưới đây đã nhận được sử uỷ quyền một cách hợp pháp của chính phủ mỗi bên tham gia ký kết hiệp định này. Hiệp định này được làm thành hai bản bằng tiếng Anh vào ngày 23/9/92.
| ĐẠI DIỆN CHÍNH PHỦ NƯỚC | ĐẠI DIỆN CHÍNH PHỦ |
Hiệp định về khoản tín dụng lâu dài giữa Chính phủ Việt Nam và Thái Lan (1992)
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 23/09/1992
- Nơi ban hành: Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ Vương quốc Thái Lan
- Người ký: Nguyễn Mạnh Cầm, Prasong Soonsiri
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 23/09/1992
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
