Hiệp định thương mại giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Singapore được ký kết vào ngày 24 tháng 11 năm 1992 tại Singapore nhằm mục đích thúc đẩy và phát triển mối quan hệ thương mại, kinh tế song phương giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp với quy định pháp luật của mỗi quốc gia.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Hiệp định áp dụng đối với các hoạt động trao đổi thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ giữa hai nước Việt Nam và Singapore. Đối tượng điều chỉnh bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, các doanh nghiệp, tổ chức thương mại và các công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại của cả hai quốc gia.
Nội dung cốt lõi của Hiệp định
1. Thúc đẩy quan hệ kinh tế và nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (Điều 1, Điều 2, Điều 3)
- Hai bên cam kết thúc đẩy mối quan hệ thương mại và kinh tế song phương trên cơ sở tuân thủ hệ thống pháp luật đang có hiệu lực tại mỗi nước.
- Các bên dành cho nhau chế độ đối xử tối huệ quốc (MFN) liên quan đến các thủ tục hải quan, thuế hải quan và các loại thuế, phí khác áp dụng cho việc trao đổi thương mại hàng hóa giữa hai nước.
- Ngoại lệ đối với nguyên tắc tối huệ quốc: Chế độ này không áp dụng đối với các ưu đãi, ưu tiên mà một bên dành cho các nước láng giềng có chung biên giới đường bộ, hoặc các đặc quyền phát sinh từ việc tham gia vào liên minh thuế quan, khu vực mậu dịch tự do, khối kinh tế khu vực hoặc các biện pháp hướng tới việc thành lập các liên kết kinh tế này.
2. Quy định về hợp đồng thương mại và thanh toán (Điều 4, Điều 5)
- Việc vận chuyển các sản phẩm xuất nhập khẩu giữa hai nước phải được thực hiện dựa trên các điều khoản của hợp đồng thương mại ký kết giữa các chủ thể có thẩm quyền, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành của mỗi bên.
- Mọi khoản thanh toán và chi phí phát sinh từ hoạt động giao thương giữa hai nước phải được thực hiện bằng các đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý ngoại hối của từng quốc gia.
3. Đại diện thương mại và xúc tiến thương mại (Điều 6, Điều 7, Điều 8)
- Hai bên nhất trí thiết lập bộ phận đại diện thương mại đi kèm với phái đoàn ngoại giao của mỗi nước tại Việt Nam và Singapore để hỗ trợ các hoạt động kết nối giao thương.
- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức thương mại tham gia vào các hội chợ, triển lãm thương mại được tổ chức trên lãnh thổ của nhau, đồng thời phải tuân thủ các quy tắc và luật lệ của nước sở tại nơi diễn ra sự kiện.
- Miễn thuế hải quan đối với các trường hợp: Hàng mẫu không có giá trị thương mại chỉ dùng để chào hàng; các thiết bị tạm nhập tái xuất phục vụ cho mục đích sửa chữa, nâng cấp, xây dựng hoặc các dự án dài hạn (phải tái xuất trả lại sau khi hoàn thành công việc).
4. Cơ chế giải quyết tranh chấp (Điều 9)
- Mọi tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hoặc liên quan đến hợp đồng trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng và hòa giải giữa các cơ quan có thẩm quyền của hai bên.
- Trường hợp hòa giải không thành, tranh chấp giữa các công ty thương mại sẽ được đưa ra giải quyết tại trọng tài quốc tế theo thỏa thuận của các bên, cụ thể là Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam hoặc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore. Ngôn ngữ sử dụng trong quá trình tố tụng trọng tài là tiếng Anh.
5. Các biện pháp ngoại lệ bảo vệ lợi ích quốc gia (Điều 10)
- Các điều khoản trong Hiệp định không làm giới hạn quyền của mỗi bên trong việc áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, phòng chống dịch bệnh ở động vật và thực vật, hoặc bảo tồn các di sản văn hóa, lịch sử, khảo cổ và nghệ thuật quốc gia.
6. Cơ chế tham vấn song phương (Điều 11)
- Hai bên sẽ tổ chức các cuộc gặp gỡ định kỳ theo thỏa thuận để trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm và thảo luận các biện pháp thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại.
- Theo yêu cầu của một bên, cuộc họp song phương phải được tổ chức tại địa điểm thống nhất trong thời hạn không quá 90 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu.
Hiệu lực và điều khoản thi hành (Điều 12)
Hiệp định chính thức có hiệu lực kể từ ngày nhận được thông báo cuối cùng về việc hai bên đã hoàn tất các thủ tục pháp lý nội bộ cần thiết. Hiệp định có giá trị hiệu lực ban đầu là 03 năm và sẽ tự động gia hạn thêm các chu kỳ 03 năm tiếp theo, trừ trường hợp một trong hai bên gửi thông báo bằng văn bản về ý định chấm dứt Hiệp định trước ít nhất 03 tháng tính đến ngày hết hạn.
Khi Hiệp định chấm dứt hiệu lực, các điều khoản của Hiệp định vẫn tiếp tục có giá trị áp dụng đối với các hợp đồng thương mại đã được ký kết trong thời gian Hiệp định có hiệu lực nhưng chưa hoàn thành việc thực hiện.
Mọi sửa đổi, bổ sung Hiệp định phải được thực hiện bằng văn bản. Bên nhận được đề nghị sửa đổi phải phản hồi trong vòng 120 ngày kể từ ngày nhận được thông báo. Các sửa đổi chỉ có hiệu lực khi có sự thỏa thuận nhất trí của cả hai bên. Hiệp định được lập thành hai bản gốc bằng tiếng Anh và tiếng Việt, cả hai văn bản đều có giá trị pháp lý ngang nhau.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ SINGAPORE (1992)
Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hoà Singapore dưới đây được gọi tắt là " Các bên".
Với mong muốn phát triển và mở rộng quan hệ thương mại và kinh tế giữa hai nước trên cơ sở bình đẳng và hai bên cùng có lợi, các bên đó nhất trí những điều khoản sau:
Điều 1:
Các bên sẽ thúc đẩy mối quan hệ thương mại và kinh tế giữa hai nước trên cơ sở pháp luật đang được thực thi tại từng nước.
Điều 2:
Các bên sẽ dành cho nhau đối xử tối huệ quốc thể hiện ở những điểm sau: Các thủ tục, thuế hải quan và các khoản thuế khác áp dụng cho việc trao đổi thương mại giữa hai nước.
Điều 3:
Những quy định ở điều khoản 2 sẽ không áp dụng cho:
a. Những ưu đãi, ưu tiên do một trong hai bên chấp nhận dành cho một nước mà với sự ưu đãi, ưu tiên này, nước đó sẽ chia sẻ biên giới chung , thay thế những ưu đãi và những ưu tiên khác tồn tại trước đó.
b. Những đặc quyền và ưu tiên do một trong hai bên chấp nhận đối với việc tham gia vào liên minh thuế quan hoặc khu vực mậu dịch tự do hoặc khối kinh tế khu vực hoặc các biện pháp dẫn đến việc thành lập khối liên minh thuế quan hoặc khu mậu dịch tự do hoặc khối kinh thế khu vực.
Điều 4:
Các sản phẩm xuất nhập khẩu sẽ được vận chuyển dựa trên những điều khoản cơ bản của những hợp đồng đó được ký kết giữa những người có thẩm quyền của hai nước theo sự điều chỉnh của pháp luật và quy định hiện hành tại mỗi nước.
Điều 5:
Mọi khoản chi phí giữa hai nước sẽ được thực hiện bằng ngoại tệ chuyển đổi tự do phù hợp với các quy định ngoại hối áp dụng cho từng nước.
Điều 6:
Các bên sẽ đồng ý có một cuộc gặp mặt những đại diện thương mại tại Việt nam và Singapore đi cùng với phái đoàn ngoại giao của từng nước.
Điều 7:
1. Nhằm mở rộng phát triển mối quan hệ thương mại và kinh tế giữa hai nước, mỗi bên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của bên kia hoặc các doanh nghiệp và tổ chức thương mại tham gia vào hội chợ triển lãm được tổ chức trên lãnh thổ và khu vực triển lãm do bên kia thực hiện hoặc những doanh nghiệp và những tổ chức thương mại tại lãnh thổ nước mình, sẽ chịu sự điều chỉnh những quy tắc, quy định và luật lệ của nước tổ chức hội chợ và triển lãm đó.
Điều 8:
Các mặt hàng sau đây khi từ lãnh thổ của một trong hai bên vào lãnh thổ phía bên kia sẽ được miễn trừ thuế hải quan:
a. Các loại hàng mẫu khi chúng không có giá trị thương mại và giả thiết rằng chúng chỉ được sử dụng như mẫu chào hàng và không có ý định buôn bán.
b. Các thiết bị nhập khẩu phục vụ cho việc sửa chữa, nâng cấp, xây dựng và những mục đích dài hạn thì sau khi hoàn thành những công việc trên sẽ được trả lại cho bên có những thiết bị này.
Điều 9:
1. Nếu có bất kỳ sự tranh chấp nào phát sinh khi thực hiện hay liên quan đến hợp đồng , cả hai bên đều cố gắng giải quyết bằng thương lượng, hoà giải qua những cơ quan có thẩm quyền.
2. Bất kỳ sự tranh chấp nào giữa các công ty thương mại hoặc các công ty liên quan đến thương mại của các bên nếu hoà giải không được sẽ đưa ra trọng tài quốc tế giải quyết theo sự thoả thuận của hai bên như trọng tài thuộc trung tâm trọng tài quốc tế Việt nam hoặc Trung tâm trọng tài quốc tế Singapore ,chịu sự điều chỉnh theo những quy định của trung tâm đó. Ngôn ngữ mà trọng tài dùng là tiếng Anh.
Điều 10:
Những điều khoản của hiệp định này sẽ không giới hạn quyền của các bên áp dụng những biện pháp tác động trực tiếp đến nhu cầu an toàn hoặc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng hoặc bảo vệ những dịch bệnh xuất hiện ở động vật và thực vật hoặc duy trì những tài sản quốc gia có giá trị khảo cổ, lịch sử hay nghệ thuật.
Điều 11:
1. Các bên thỉnh thoảng gặp gỡ nhau, theo thoả thuận trên, và trao đổivới nhau toàn bộ những vấn đề mà hai bên cùng quan tâm cũng như những biện pháp cần thiết nhằm mở rộng sự hợp tác song phương, mối quan hệ thương mại và kinh tế như bản Hiệp định này đề cập.
2. Theo yêu cầu của một bên nào đó thì cuộc họp sẽ được tổ chức tại một nơi mà các bên đều nhất trí nhưng thời hạn thực hiện cuộc họp này là không quá 90 ngày ngay sau khi nhận được lời yêu cầu trên.
Điều 12:
1. Bản Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào thời điểm của thông báo cuối cùng, theo đó các bên thông báo cho nhau rằng mọi yêu cầu cơ bản đó hoàn tất. Bản Hiệp định này sẽ có giá trị trong thời hạn ba năm và sẽ tiếp tục có hiệu lực vào 3 năm tiếp theo và tiếp tục như vậy trừ phi một trong hai bên thông báo bằng văn bản ý định chấm dứt bản Hiệp định này 3 tháng trước khi Hiệp định này hết thời hạn có hiệu lực.
2. Sau khi chấm dứt, các điều khoản của bản Hiệp định này vẫn có giá trị như cũ đối với toàn bộ các bản hợp đồng chưa được hoàn tất song đó được ký kết vào thời điểm mà bản Hiệp định này có hiệu lực.
3. Khi bản Hiệp định này có hiệu lực, thì vào bất cứ thời điểm nào một trong hai bên có thể đưa ra sự sửa đổi bằng văn bản và theo sự sửa đổi này bên kia sẽ phản hồi lại trong vòng 120 ngày từ khi nhận được sự thông báo trên. Những điều khoản của bản Hiệp định này có thể được sửa đổi theo sự thoả thuận của các bên.
Bản Hiệp định này được soạn thảo ở Singapore, ngày 24 tháng 11, 1992, gồm hai bản gốc, soạn thảo bằng tiếng Anh, và tiếng Việt, cả hai văn bản đều có hiệu lực như nhau.
Hiệp định thương mại giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Singapore (1992)
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 24/11/1992
- Nơi ban hành: Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ Cộng hoà Xingapo
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
