Tóm tắt Hiệp định khung e-ASEAN
Hiệp định khung e-ASEAN là một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng được ký kết bởi các quốc gia thành viên ASEAN nhằm thúc đẩy sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), xây dựng một xã hội thông tin kết nối và thu hẹp khoảng cách số trong khu vực. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết và chuyên sâu toàn bộ nội dung của Hiệp định này.
Thông tin chung về văn bản:
- Tên văn bản: Hiệp định khung e-ASEAN (e-ASEAN Framework Agreement).
- Ngày ký ban hành: Ngày 24/11/2000 tại Singapore.
- Các quốc gia ký kết: Brunei Darussalam, Vương quốc Campuchia, Cộng hòa Indonesia, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Malaysia, Liên bang Myanmar, Cộng hòa Philippines, Cộng hòa Singapore, Vương quốc Thái Lan, và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
- Tình trạng hiệu lực: Có hiệu lực sau khi tất cả các nước ký kết hoàn tất thủ tục phê chuẩn hoặc phê duyệt nội bộ và nộp văn bản cho Tổng Thư ký ASEAN.
Nội dung chi tiết các điều khoản của Hiệp định:
- Điều 1: Định nghĩa các thuật ngữ cốt lõi
- Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): Đề cập đến hạ tầng cơ sở, hệ thống phần cứng và phần mềm cần thiết để thu nhận, xử lý, phổ biến thông tin nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin.
- Sản phẩm ICT: Là các sản phẩm thuộc Hiệp định công nghệ thông tin của WTO (ITA1) và các sản phẩm liên quan khác do các nước thành viên thỏa thuận bổ sung.
- Dịch vụ ICT: Các dịch vụ liên quan đến thông tin và truyền thông được liệt kê trong Bảng phân loại sản phẩm trung tâm (CPC) và các dịch vụ bổ sung được thống nhất sau này.
- Đầu tư: Được định nghĩa là đầu tư trực tiếp liên quan đến việc sản xuất các sản phẩm ICT và cung cấp các dịch vụ ICT.
- Điều 2: Mục đích của Hiệp định
- Đẩy mạnh hợp tác toàn diện nhằm phát triển, tăng cường và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành ICT trong khu vực ASEAN.
- Thúc đẩy hợp tác chặt chẽ để giảm thiểu sự bất bình đẳng và thu hẹp khoảng cách kỹ thuật số giữa các quốc gia thành viên.
- Tăng cường sự phối hợp, liên kết giữa khu vực tư nhân và chính phủ trong việc triển khai hiệu quả sáng kiến e-ASEAN.
- Thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại đối với các sản phẩm, dịch vụ và hoạt động đầu tư trong lĩnh vực ICT.
- Điều 3: Phạm vi điều chỉnh của Hiệp định
- Thiết lập và tạo thuận lợi cho cơ sở hạ tầng thông tin chung của ASEAN.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của thương mại điện tử trong khu vực.
- Tự do hóa thương mại và đầu tư đối với các sản phẩm, dịch vụ ICT để hỗ trợ sáng kiến e-ASEAN.
- Thúc đẩy đầu tư vào sản xuất sản phẩm và cung ứng dịch vụ ICT.
- Xây dựng năng lực xã hội điện tử, giảm khoảng cách số trong nội bộ từng quốc gia và giữa các nước thành viên.
- Đẩy mạnh ứng dụng ICT trong cung cấp dịch vụ công của chính phủ (Chính phủ điện tử - e-Government).
- Hỗ trợ các nước thành viên sẵn sàng đẩy nhanh tiến trình thực hiện vào năm 2002, đồng thời giúp đỡ các nước thành viên khác nâng cao năng lực kỹ thuật.
- Điều 4: Tạo thuận lợi thiết lập cơ sở hạ tầng thông tin ASEAN
- Các nước thành viên cam kết nâng cao thiết kế và tiêu chuẩn hạ tầng thông tin quốc gia nhằm đảm bảo tính liên thông và khả năng tương tác kỹ thuật giữa các quốc gia.
- Hướng tới kết nối trực tiếp tốc độ cao giữa các hạ tầng thông tin quốc gia để hình thành trục hạ tầng cơ sở thông tin chung ASEAN.
- Hợp tác phát triển dung liệu ASEAN (ASEAN content), bao gồm thư viện kỹ thuật số và các cổng thông tin du lịch chung.
- Tạo thuận lợi xây dựng các tổng đài, cổng Internet quốc gia và khu vực, hệ thống bộ nhớ đệm và các trang web phiên bản khu vực.
- Điều 5: Thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử
- Xây dựng khuôn khổ pháp lý và luật lệ về thương mại điện tử nhằm tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng và hỗ trợ doanh nghiệp tái cấu trúc theo hướng e-ASEAN.
- Khẩn trương nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế về giao dịch thương mại điện tử vào chính sách quốc gia.
- Thúc đẩy việc thừa nhận lẫn nhau đối với khuôn khổ chữ ký điện tử giữa các nước thành viên.
- Tạo thuận lợi cho các giao dịch và thanh toán điện tử an toàn thông qua các cổng thanh toán điện tử khu vực.
- Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử, khuyến nghị áp dụng các Hiệp ước của WIPO năm 1996 (Hiệp ước về bản quyền và Hiệp ước về ghi âm, biểu diễn).
- Tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư của người tiêu dùng trực tuyến.
- Khuyến khích áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) cho các giao dịch trực tuyến.
- Điều 6: Tự do hóa thương mại các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư ICT
- Đàm phán đẩy nhanh cam kết về ICT theo Hiệp định CEPT/AFTA, Hiệp định khung về dịch vụ (AFAS) và Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN (AIA).
- Lộ trình loại bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với sản phẩm ICT: Chia làm 3 đợt. Đối với các nước thành viên đi trước: Đợt 1 (01/01/2003), Đợt 2 (01/01/2004), Đợt 3 (01/01/2005). Đối với nhóm nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam): Lộ trình tương ứng sẽ là năm 2008, 2009 và 2010.
- Đạt mức tự do hóa cao hơn đối với dịch vụ ICT thông qua đàm phán liên tục trong khuôn khổ AFAS nhằm tự do hóa dòng lưu chuyển dịch vụ.
- Theo Hiệp định AIA, các nước phải mở cửa ngay lập tức cho các nhà đầu tư ASEAN vào sản phẩm ICT và dành sự đối xử quốc gia (NT) không kém phần ưu đãi hơn so với nhà đầu tư trong nước.
- Điều 7: Tạo thuận lợi cho mua bán sản phẩm và dịch vụ ICT
- Ký kết các Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về sản phẩm ICT và hài hòa hóa tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế.
- Thúc đẩy thực hiện Thỏa thuận công nhận lẫn nhau trong ASEAN đối với thiết bị viễn thông.
- Hài hòa Biểu thuế quan đối với sản phẩm ICT thông qua hoàn thiện Biểu thuế quan chung ASEAN (AHTN) vào năm 2000 và áp dụng năm 2002; áp dụng Hiệp định trị giá tính thuế của WTO để hài hòa giá trị tính thuế hải quan.
- Đẩy nhanh các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn xác định chất lượng sản phẩm.
- Điều 8: Tạo dựng năng lực xã hội điện tử
- Xây dựng cộng đồng e-ASEAN bằng cách nâng cao nhận thức và hiểu biết về ICT, đặc biệt là Internet.
- Triển khai chương trình xây dựng năng lực dựa trên đánh giá mức độ sẵn sàng của từng nước, tập trung đào tạo cho doanh nghiệp nhỏ, lao động kỹ thuật, nhà quản lý và hoạch định chính sách. Các nước phát triển hơn sẽ hỗ trợ đào tạo cho các nước có trình độ thấp hơn.
- Phát triển nguồn nhân lực ICT trong trường học, cộng đồng và cơ quan công quyền.
- Hướng tới xã hội tri thức, thu hẹp khoảng cách số, nâng cao tính cạnh tranh của lao động, tạo thuận lợi cho di chuyển tự do của lao động có trình độ và tăng cường tính cộng đồng ASEAN.
- Điều 9: Phát triển Chính phủ điện tử (e-Government)
- Ứng dụng ICT để cải thiện chất lượng cung cấp và chuyển giao các dịch vụ của Chính phủ.
- Từng bước cung cấp dịch vụ công trực tuyến và thực hiện giao dịch điện tử nhằm tăng cường liên kết công - tư và nâng cao tính minh bạch.
- Tăng cường hợp tác liên chính phủ thông qua mua sắm công điện tử và tạo thuận lợi cho việc di chuyển tự do của hàng hóa, thông tin và con người trong ASEAN.
- Điều 10: Cơ chế giải quyết tranh chấp
- Mọi bất đồng phát sinh từ việc giải thích hoặc áp dụng Hiệp định sẽ được giải quyết trước tiên thông qua tham vấn hữu nghị giữa các bên liên quan.
- Trường hợp không giải quyết được bằng tham vấn, tranh chấp sẽ được đưa ra giải quyết theo quy định tại Nghị định thư về Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN ký ngày 20/11/1996 tại Manila, Philippines.
- Điều 11 - Điều 15: Các điều khoản pháp lý và thực thi
- Sửa đổi (Điều 11): Mọi sửa đổi phải được thông qua bằng sự đồng thuận của tất cả các nước thành viên và có hiệu lực sau khi tất cả các nước nộp văn bản phê chuẩn/chấp thuận cho Tổng Thư ký ASEAN.
- Các Nghị định thư (Điều 12): Các nước thành viên có thể đàm phán và ký kết các Nghị định thư riêng để thực hiện Hiệp định, các văn kiện này là bộ phận không tách rời của Hiệp định khung.
- Thỏa thuận pháp lý và giám sát (Điều 13): Hội nghị các quan chức cấp cao về kinh tế (SEOM) chịu trách nhiệm giám sát, điều phối và kiểm điểm việc thực hiện Hiệp định, báo cáo và hỗ trợ Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM).
- Mối quan hệ với các Hiệp định khác (Điều 14): Các quy định của Hiệp định CEPT/AFTA, AFAS, AIA (bao gồm cả biện pháp tự vệ và ngoại lệ) vẫn giữ nguyên hiệu lực và không bị ảnh hưởng bởi Hiệp định này, trừ khi có quy định đặc biệt khác.
- Điều khoản cuối cùng (Điều 15): Hiệp định chính thức có hiệu lực khi toàn bộ các nước thành viên hoàn tất thủ tục phê chuẩn hoặc phê duyệt nội bộ và nộp lưu chiểu cho Tổng Thư ký ASEAN.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
Lời mở đầu
Chúng tôi, những người đứng đầu Chính phủ/Nhà nước Brunây Daruxalam, Vương quốc Campuchia, Cộng hòa Indonesia, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Malaysia, Liên bang Mianma, Cộng hòa Philippines, Cộng hòa Singapore, Vương quốc Thái Lan, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (sau đây được gọi là ASEAN):
Nhận thấy những cơ hội do cuộc cách mạng công nghệ thông tin và truyền thông (dưới đây viết tắt là ICT) và thương mại điện tử mang lại;
Mong muốn rằng dân tộc mình được hưởng những lợi ích từ những cơ hội do ICT và thương mại điện tử đem lại, tiếp cận với những công nghệ mới này, và tạo thuận lợi cho các giao dịch điện tử và thương mại qua biên giới;
Nhận thức rõ rằng mục tiêu cuối cùng của việc phát triển kinh tế là nhằm thúc đẩy phát triển nhân lực về mọi mặt để giúp nhân dân các nước ASEAN có được cơ hội phát huy tối đa tiềm năng của mình;
Tin tưởng rằng sáng kiến e-ASEAN và việc thiết lập cơ sở hạ tầng thông tin ASEAN, như đã đề ra trong Chương trình Hành động Hà Nội, sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh của ASEAN trên thị trường thế giới;
Quan tâm tới nhu cầu thúc đẩy sự phối hợp nhiều hơn giữa khu vực tư nhân và khu vực nhà nước trong việc thực hiện e-ASEAN;
Quan tâm tới những mục tiêu và các quy định của Hiệp định ASEAN về Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) cho Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA); Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) và Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA);
Nhắc lại quyết định của mình tại Hội nghị Cấp cao ASEAN không chính thức lần thứ III, tháng 11/ 1999, về thành lập khu vực thương mại tự do (FTA) cho hàng hóa, dịch vụ và đầu tư cho các ngành thông tin - viễn thông trong khuôn khổ một Hiệp định e-ASEAN mới;
Đã nhất trí các điều khoản dưới đây:
1. Nhằm phục vụ cho mục đích của Hiệp định này, những thuật ngữ dưới đây sẽ, trừ khi có các quy định khác, có nghĩa như sau:
(a) "Công nghệ thông tin và truyền thông" (dưới đây viết tắt là ICT) đề cập đến hạ tầng cơ sở, các hệ thống phần cứng và phần mềm cần thiết để thu nhận, xử lý và phổ biến thông tin nhằm tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin;
(b) "Các sản phẩm ICT" có nghĩa là những sản phẩm trong Hiệp định công nghệ thông tin của WTO (viết tắt là ITA1) và những sản phẩn có liên qua mà các nnước thành viên có thể đồng ý bổ sung thêm sau;
(c) "Dịch vụ ICT" có nghĩa là các dịch vụ có liên quan đến thông tin và truyền thông được liệt kê trong Bảng phân loại sản phẩm trung tâm (CPC) và bất kỳ những dịch vụ bổ sung có liên quan mà các nnước thành viên có thể đồng ý bổ sung sau; và
(d) "Đầu tư" có nghĩa là đầu tư trực tiếp liên quan đến sản xuất các sản phẩm ICT và cung cấp dịch vụ ICT.
Điều 2. Mục đích của Hiệp định
Mục đích của Hiệp định này là:
(a) Đẩy mạnh hợp tác để phát triển, tăng cường và nâng cao tính cạnh tranh của lĩnh vực ICT trong ASEAN;
(b) Đẩy mạnh hợp tác để giảm mức không đồng đều về kỹ thuật số giữa các quốc gia ASEAN;
(c) Đẩy mạnh hợp tác giữa khu vực tư nhân và chính phủ trong việc thực hiện e-ASEAN; và
(d) Đẩy mạnh việc tự do hóa thương mại đối với các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư về ICT để ủng hộ sáng kiến e-ASEAN.
Hiệp định này sẽ đề cập đến các biện pháp nhằm:
Tạo thuận lợi cho việc thiết lập cơ sở hạ tầng thông tin ASEAN;
Tạo thuận lợi cho tăng trưởng thương mại điện tử trong ASEAN;
Thúc đẩy và tạo thuận lợi cho việc tự do hóa thương mại đối với các sản phẩm, dịch vụ ICT và tự do hóa đầu tư để ủng hộ sáng kiến e-ASEAN;
Thúc đẩy và tạo điều kiện đầu tư vào sản xuất các sản phẩm ICT và cung cấp các dịch vụ ICT;
Phát triển xã hội điện tử trong ASEAN và xây dựng năng lực để giảm bớt sự phát triển không đồng đều về kỹ thuật số trong từng nước ASEAN và giữa các nước ASEAN;
Đẩy mạnh việc sử dụng ICT trong việc cung cấp các dịch vụ chính phủ (e-Government); và
Giúp các nước thành viên đã sẵn sàng có thể đẩy nhanh việc thực hiện Hiệp định này như đã quy định tại Điều 4, 5, 6 và 7 dưới đây sẽ thực hiện vào năm 2002, và giúp đỡ các nước thành viên khác nâng cao năng lực của mình.
Điều 4. Tạo thuận lợi cho việc thiết lập cơ sở hạ tầng thông tin ASEAN
1. Các nước thành viên sẽ nâng cao trình độ các thiết kế và tiêu chuẩn của hạ tầng thông tin quốc gia của mình nhằm tạo thuận lợi cho tính liên thông và bảo đảm tính liên tác về mặt kỹ thuật của hạ tầng thông tin giữa các nước.
2. Các nước thành viên sẽ hướng tới việc kết nối trực tiếp với tốc độ cao các hạ tầng cơ sở thông tin của mình nhằm tạo ra sự kết nối trong trục hạ tầng cơ sở thông tin ASEAN.
3. Bổ sung vào hạ tầng cơ sở thông tin ASEAN, các nước thành viên hướng tới việc phát triển dung liệu ASEAN, liên quan tới nhưng không giới hạn trong việc hợp tác phát triển thư viện kỹ thuật số và các cổng du lịch.
4. Các nước thành viên theo hướng tới việc tạo thuận lợi cho việc xây dựng các tổng đài và các cổng Internet quốc gia và khu vực, bao gồm cả các bộ nhớ đệm và các trang web phiên bản của khu vực.
Điều 5. Tạo thuận lợi cho sự phát triển của thương mại điện tử
1. Các nước thành viên sẽ thông qua các khuôn khổ pháp lý và luật lệ về thương mại điện tử nhằm tạo dựng lòng tin và sự tin cậy cho người tiêu dùng và tạo thuận lợi cho việc sắp xếp lại các doanh nghiệp theo hướng phát triển e-ASEAN. Để đạt được mục tiêu này, các nước thành viên sẽ:
(a) Khẩn trương đưa vào luật và các chính sách quốc gia của mình các vấn đề liên quan đến các giao dịch thương mại điện tử dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế;
(b) Tạo thuận lợi cho việc thừa nhận lẫn nhau về khuôn khổ chữ ký điện tử;
(c) Tạo thuận lợi cho các giao dịch, thanh quyết toán bằng phương pháp điện tử an toàn trong khu vực thông qua các cơ chế cụ thể như các cổng thanh toán điện tử;
(d) Áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ phát sinh trong thương mại điện tử. Các nước thành viên được khuyến nghị xem xét việc áp dụng các Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO), chủ yếu là "Hiệp ước về bản quyền của WIPO năm 1996" và "Hiệp ước về ghi âm và biểu diễn của WIPO năm 1996";
(e) Thực hiện các biện pháp nhằm tăng cường việc bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật riêng tư của người tiêu dùng; và
(f) Khuyến khích sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) đối với các giao dịch trực tuyến.
Điều 6. Tự do hóa thương mại các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư ICT
1. Các nước thành viên sẽ tiến hành đàm phán nhằm đẩy nhanh việc thực hiện các cam kết của các nước thành viên về các sản phẩm, dịch vụ và đầu tư ICT theo Hiệp định về Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) nhằm hình thnh Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFAS) và Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN (AIA).
2. Các nước thành viên sẽ loại bỏ hàng rào thuế quan và phi quan thuế về thương mại trong khu vực ASEAN đối với các sảm phẩm ICT theo 3 đợt. Đợt một sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2003. Đợt hai sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2004. Đợt ba có hiệu lực từ ngày 01/01/2005. Đối với các nước Campuchia, Lào, Mianma và Việt Nam, ba đợt này sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2008, 2009 và 2010. Các sản phẩm ICT thuộc ba đợt này sẽ do các nước thành viên trình lên Ban Thư ký ASEAN.
3. Các nước thành viên sẽ đạt được mức tự do hóa thương mại cao hơn đối với dịch vụ ICT thông qua các vòng đàm phán liên tục trong khuôn khổ Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ nhằm thực hiện các dòng lưu chuyển tự do về dịch vụ.
4. Theo các quy định của Hiệp định AIA, mỗi nước thành viên sẽ:
(a) Mở cửa ngay cho các khoản đầu tư của các nhà đầu tư ASEAN vào các sản phẩm ICT; và
(b) Dành ngay cho các nhà đầu tư ASEAN và vốn đầu tư của họ vào các sản phẩm ICT và các biện pháp tác động đầu tư sự đối xử không kém phần ưu đãi hơn các nhà đầu tư và vốn đầu tư trong nước, bao gồm nhưng không hạn chế, trong việc tiếp nhận, thành lập, mua lại, mở rộng, quản lý, điều hành và thanh lý các khoản đầu tư đó.
Điều 7. Tạo thuận lợi cho mua bán các sản phẩm và dịch vụ ICT
1. Để tạo thuận lợi cho việc mua bán các sản phẩm ICT, các nước thành viên sẽ ký các Thỏa thuận công nhận lẫn nhau (MRA) về các sản phẩm ICT nếu có thể được và sẽ hài hòa các tiêu chuẩn quốc gia với các tiêu chuẩn quốc tế liên quan.
2. Các nước thành viên sẽ nỗ lực thúc đẩy công việc hướng tới thực hiện Thỏa thuận công nhận lẫn nhau trong ASEAN về thiết bị viễn thông.
3. Các nước thành viên sẽ hài hòa Biểu thuế quan đối với các sản phẩm ICT thông qua việc hoàn thiện Biểu thuế quan chung (AHTN) vào năm 2000 và bắt đầu thực hiện vào năm 2002. Các nước thành viên sẽ hài hoà giá trị tính thuế hải quan cho các sản phẩm ICT bằng việc thực hiện Hiệp định trị giá tính thuế của WTO.
4- Các nước thành viên sẽ đẩy nhanh việc hướng tới các thỏa thuận công nhận lẫn nhau về các tiêu chuẩn xác định chất lượng.
Điều 8. Tạo dựng năng lực xã hội điện tử
1- Các nước thành viên sẽ xây dựng một cộng đồng e-ASEAN bằng việc nâng cao nhận thức, hiểu biết chung và hiểu rõ giá trị của ICT, đặc biệt là Internet. Liên quan đến vấn đề này, một chương trình xây dựng năng lực sẽ được triển khai trên cơ sở đánh giá mức độ sẵn sàng của các nước thành viên ASEAN, bao gồm cả vấn đề giáo dục và đào tạo cho các doanh nghiệp nhỏ, công nhân kỹ thuật trong lĩnh vực ICT, các nhà quản lý và hoạch định chính sách ICT. Các nước thành viên tiên tiến hơn, có các phương tiện đào tạo ICT, sẽ mở các khóa đào tạo cho các nước thành viên có trình độ thấp hơn.
2- Để gia tăng sự hiểu biết về ICT và phát triển đội ngũ công nhân ICT trong khu vực, các nước thành viên sẽ triển khai một chương trình phát triển nguồn nhân lực cho các trường học, cộng đồng và cơ quan.
3- Các nước thành viên sẽ hướng tới việc thiết lập một xã hội điện tử bằng cách:
Thúc đẩy sự phát triển của một xã hội tri thức;
Thu hẹp sự phát triển không đồng đều về kỹ thuật số;
Nâng cao tính cạnh tranh của lực lượng lao động;
Tạo thuận lợi cho việc di chuyển tự do hơn lực lượng lao động có trình độ; và
Sử dụng ICT để nâng cao tính cộng đồng của ASEAN.
1- Các nước thành viên sẽ sử dụng ICT để cải thiện việc cung cấp và chuyển giao các dịch vụ của Chính phủ.
2- Các nước thành viên sẽ từng bước cung cấp hàng loạt các dịch vụ công và tiến hành các giao dịch trực tuyến bằng việc sử dụng ICT để tạo thuận lợi cho việc liên kết giữa khu vực tư nhân và Chính phủ, đồng thời nâng cao tính minh bạch.
3- Các nước thành viên sẽ tiến tới tăng cường hợp tác liên chính phủ bằng việc:
đẩy mạnh việc sử dụng các phương tiện điện tử trong việc mua sắm hàng hóa và dịch vụ, và
tạo thuận lợi cho việc di chuyển tự do hơn đối với hàng hóa, thông tin và con người trong nội bộ ASEAN.
Điều 10. Giải quyết tranh chấp
Bất kỳ khác biệt nào giữa các nước thành viên liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Hiệp định khung này sẽ được giải quyết thông qua sự tham vấn giữa các nước thành viên liên quan trong phạm vi tối đa có thể được.
Nếu không thể được giải quyết, tranh chấp sẽ được giải quyết theo Nghị định thư về Cơ chế giải quyết tranh chấp của ASEAN ký ngày 20/11/1996 tại Manila, Philippines.
Bất kỳ sửa đổi nào đối với Hiệp định này sẽ được thông qua bằng sự đồng thuận và sẽ có hiệu lực khi tất cả các nước ký kết nộơ văn bản phê chuẩn và hoặc chấp thuận cho Tổng Thư ký ASEAN.
Các nước thành viên có thể đàm phán và ký các Nghị định thư riêng để thực hiện Hiệp định với tư cách là bộ phận không tách rời của Hiệp định này.
Điều 13. Các thỏa thuận pháp lý
Hội nghị các quan chức cấp cao về kinh tế (SEOM) sẽ giám sát, điều phối và kiểm điểm việc thực hiện Hiệp định này. SEOM sẽ báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) và giúp AEM về tất cả các vấn đề liên quan đến Hiệp định.
Điều 14. Mối quan hệ với các Hiệp định khác của ASEAN
Trừ khi có quy định đặc biệt khác trong Hiệp định này, các quy định trong Hiệp định về Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) cho Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các Nghị định thư kèm theo, Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ và các Nghị định thư kèm theo, Hiệp định khung về Khu vực đầu tư ASEAN, bao gồm nhưng không chỉ giới hạn đối với những quy định liên quan tới các biện pháp tự vệ và các ngoại lệ, vẫn sẽ được áp dụng và không bị ảnh hưởng bởi các Hiệp định này.
Hiệp định sẽ có hiệu lực khi tất cả các nước ký kết nộp văn bản phê chuẩn hoặc phê duyệt cho Tổng Thư ký ASEAN.
Hiệp định khung này sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng thư ký ASEAN và Tổng thư ký ASEAN sẽ gửi ngay đến mỗi nước thành viên một bản sao chính xác.
Trước sự chứng kiến, chúng tôi ký Hiệp định khung e-ASEAN này.
Làm tại Singapore, ngày 24/11/2000, với một bản duy nhất bằng tiếng Anh.
| BRUNÂY ĐARUXALAM | VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA |
| CỘNG HÒA INĐÔNÊXIA | CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO |
| MALAIXIA | LIÊN BANG MIANMA |
| CỘNG HÒA PHILIPPIN | CỘNG HÒA SINGAPORE |
| VƯƠNG QUỐC THÁI LAN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Hiệp định khung e-ASEAN
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 24/11/2000
- Nơi ban hành: Chính phủ các nước, Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Người ký: Phan Văn Khải, Haji Hassanal Bolkiah, Hun Sen, Abdurrahman Wahid, Sisavath Keobounphanh, Mahathir Bin Mohamad, Than Shwe, Joseph Ejercito Estrada, Goh Chok Tong, Chuan Leekpai
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
