Giới thiệu chung về Chỉ thị số 10/1999/CT-TTg
Chỉ thị số 10/1999/CT-TTg được ban hành ngày 29 tháng 4 năm 1999 nhằm giải quyết kịp thời, dứt điểm các kiến nghị, khiếu nại của doanh nghiệp. Đây là một văn bản chỉ đạo quan trọng của Thủ tướng Chính phủ trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động sản xuất, kinh doanh hiệu quả.
Mục tiêu cốt lõi của Chỉ thị
Chỉ thị tập trung vào các mục tiêu trọng điểm nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp:
- Khắc phục triệt để tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, chậm trễ trong việc giải quyết các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.
- Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu các Bộ, ngành và địa phương trong việc đồng hành cùng doanh nghiệp.
- Tạo dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng, giảm thiểu chi phí không chính thức và rủi ro pháp lý cho cộng đồng doanh nghiệp.
Trách nhiệm của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp
Chỉ thị quy định rõ vai trò và nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan trong việc tiếp nhận và xử lý kiến nghị:
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan thuộc Chính phủ: Có trách nhiệm chủ động rà soát các cơ chế, chính sách thuộc lĩnh vực quản lý trực tiếp; kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi các quy định không còn phù hợp, gây cản trở cho hoạt động của doanh nghiệp.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Phải thiết lập đường dây nóng hoặc bộ phận tiếp nhận thông tin chuyên trách để lắng nghe ý kiến từ doanh nghiệp; tổ chức các buổi đối thoại định kỳ giữa chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn ngay tại cơ sở.
- Sự phối hợp liên ngành: Đối với các kiến nghị liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, cơ quan chủ trì phải chủ động phối hợp với các bên liên quan để thống nhất phương án giải quyết, không để doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần qua nhiều đầu mối hành chính.
Quy trình và thời hạn giải quyết kiến nghị
Để đảm bảo tính kịp thời và hiệu quả, Chỉ thị đưa ra các yêu cầu nghiêm ngặt về quy trình và thời gian xử lý:
- Các kiến nghị thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan nào thì cơ quan đó phải thụ lý và trả lời bằng văn bản rõ ràng cho doanh nghiệp trong thời hạn quy định, không được kéo dài vô thời hạn.
- Trường hợp vụ việc phức tạp vượt quá thẩm quyền, cơ quan tiếp nhận phải chủ động báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời thông báo cho doanh nghiệp biết về tình trạng và tiến độ xử lý.
- Nghiêm cấm mọi hành vi sách nhiễu, gây phiền hà, thờ ơ hoặc cố tình kéo dài thời gian giải quyết kiến nghị của doanh nghiệp vì mục đích cá nhân hoặc vụ lợi.
Cơ chế giám sát, báo cáo và xử lý vi phạm
Chỉ thị thiết lập cơ chế kiểm tra chặt chẽ để đảm bảo các nội dung chỉ đạo được thực thi nghiêm túc trong thực tế:
- Văn phòng Chính phủ có vai trò đôn đốc, theo dõi và tổng hợp tình hình giải quyết kiến nghị của các Bộ, ngành, địa phương để báo cáo định kỳ lên Thủ tướng Chính phủ.
- Người đứng đầu các cơ quan, địa phương phải chịu trách nhiệm cá nhân trước Thủ tướng Chính phủ nếu để xảy ra tình trạng trì trệ, gây thiệt hại cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do sự chậm trễ của cơ quan mình.
- Các cá nhân, công chức có hành vi vi phạm, thiếu trách nhiệm hoặc hách dịch trong thực thi công vụ sẽ bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10/1999/CT-TTg | Hà Nội , ngày 29 tháng 04 năm 1999 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Trong hai ngày 18 và 19 tháng 03 năm 1999, tại thành phố Hồ Chí Minh Thủ tướng Phan Văn Khải và Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc đã cùng lãnh đạo một số Bộ, ngành và địa phương gặp gỡ đại diện các doanh nghiệp trong toàn quốc.
Tham dự hội nghị có 700 nhà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trong phạm vi cả nước. Hầu hết các doanh nghiệp đều bày tỏ sự phấn khởi và đánh giá cao hiệu quả các cuộc gặp của Thủ tướng với cộng đồng doanh nghiệp đầu năm 1998. Chỉ trong năm 1998, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới được nhiều quy chế. Các Bộ, ngành và địa phương đã có chuyển biến tích cực trong việc tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đã cố gắng khắc phục khó khăn, từng bước ổn định và phát triển sản xuất, góp phần giữ được đà tăng trưởng của nền kinh tế.
Tại cuộc gặp này, đại diện các Bộ, ngành, địa phương đã trực tiếp nghe những kiến nghị của doanh nghiệp và trao đổi những dự kiến mới trong cách xử lý công việc thuộc thẩm quyền, liên quan tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng nhận thức được những nhiệm vụ nặng nề cùng những khó khăn gặp phải trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong điều kiện quốc tế mới, đòi hỏi bản thân phải vươn lên mạnh mẽ hơn, đặc biệt là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh.
Để phát huy kết quả đã thực hiện trong năm 1998, giải quyết một cách nhanh chóng những kiến nghị đúng đắn của doanh nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát huy nội lực, sản xuất kinh doanh có hiệu quả và từng bước hội nhập khu vực và quốc tế, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan thuộc Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các doanh nghiệp thực hiện tốt các việc sau đây:
1. Những việc cần khẩn trương giải quyết:
Trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn được phân cấp, khẩn trương xử lý, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc của doanh nghiệp đã nêu trong hội nghị và theo tinh thần Chỉ thị 16/1998/CT-TTg ngày 31/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó cần tập trung vào:
Việc cấp giấy phép hành nghề, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh;
Các biện pháp bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước;
Chính sách khuyến khích xuất khẩu;
Công tác chống gian lận thương mại, hàng giả;
Thủ tục hải quan;
Thuế xuất, nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng;
Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp;
Chế độ tiền lương;
Các thủ tục vay vốn ngân hàng, thủ tục bảo lãnh;
Chính sách cổ phần hoá;
Các chính sách về đất đai;
Công tác đấu thầu;
Công tác thanh tra, kiểm tra.
Đẩy nhanh tiến độ rà soát văn bản pháp quy hiện hành về nội dung quản lý hành chính nhà nước đối với doanh nghiệp thuộc phạm vi thẩm quyền của mình, kịp thời phát hiện và sửa đổi những vấn đề bất hợp lý đang gây khó khăn cho hoạt động của doanh nghiệp.
Căn cứ chương trình xây dựng văn bản pháp qui của Chính phủ và nhiệm vụ được giao khẩn trương trình các cơ quan có thẩm quyền để ban hành: Luật thay thế Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty; Nghị định về giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp quy mô nhỏ; Quy chế bán cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài; Nghị định về quỹ hỗ trợ xuất khẩu; Nghị định về quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; Quy chế về tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ; Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai sửa đổi, Luật thương mại, Luật Ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng; Quy chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Nghị định về đổi mới cơ chế tín dụng đầu tư nhà nước v.v...
Chuẩn bị chương trình sửa đổi Luật doanh nghiệp nhà nước, nghiên cứu xây dựng Quy chế về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, Nghị định về công ty hoá doanh nghiệp nhà nước, Nghị định về đăng ký kinh doanh, Nghị định về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ v.v...
3. Cải cách hành chính, cải tiến cách làm việc của Chính phủ với cơ sở:
Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ tiếp tục mở rộng việc tiếp xúc, đối thoại với doanh nghiệp, hàng năm có cuộc gặp mặt rộng rãi theo chủ đề, nhằm động viên các doanh nghiệp nỗ lực phấn đấu theo các định hướng quan trọng trong từng thời kỳ, tạo ra đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi, có đóng góp ngày càng to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương chủ trì cùng Ban nghiên cứu của Thủ tướng và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam tổ chức các buổi làm việc với các doanh nghiệp theo chuyên đề: Đầu tư phát triển, mở rộng thị trường, xuất nhập khẩu, cạnh tranh và hội nhập, thuế VAT v.v... Định kỳ họp mặt các doanh nghiệp, các Hiệp hội doanh nghiệp để nắm bắt tình hình và báo cáo Thủ tướng Chính phủ các ý kiến đề xuất của doanh nghiệp. Lãnh đạo các Bộ, các địa phương tiếp tục duy trì các cuộc tiếp xúc với đại diện doanh nghiệp thuộc phạm vi trách nhiệm của mình, có hướng xử lý kịp thời các kiến nghị đúng đắn của doanh nghiệp.
Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Trung ương làm đầu mối, phối hợp với các vụ của Văn phòng Chính phủ, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, tiếp nhận, đề xuất phương án xử lý, báo cáo Thủ tướng Chính phủ giải quyết những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị thỏa đáng của doanh nghiệp.
Ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu sửa đổi chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước của các Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, trước hết ở một số cơ quan tổng hợp, triển khai thực hiện quy chế công chức và chế độ công vụ, xây dựng quy chế kiểm tra trong công vụ.
Tổ chức triển khai mạnh mẽ công tác tìm kiếm và mở rộng thị trường, với phương châm tất cả mọi ngành, mọi cấp, mọi doanh nghiệp, mọi người, trong đó huy động cả bộ máy sứ quán, thương vụ, các hiệp hội, tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước, người Việt nam sinh sống ở nước ngoài cùng tham gia vào công tác tiếp thị, nhằm vào mục tiêu chung là đưa thị phần của sản phẩm Việt nam chiếm lĩnh phần lớn thị trường nội địa và ngày càng được mở rộng trên thị trường quốc tế. Thực hiện tốt việc cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp để giúp doanh nghiệp có điều kiện so sánh, cân nhắc về khả năng cũng như xác định được định hướng hoạt động của mình. Có biện pháp thông tin đầy đủ, thường xuyên, kịp thời về các văn bản pháp quy mới ban hành, để các doanh nghiệp luôn nắm được những quy định, những chế độ chính sách mới nhất của Đảng và Nhà nước.
Thực hiện một số biện pháp kích cầu trong nước để tạo điều kiện cho sản xuất phát triển như: Công bố danh mục các dự án đầu tư trong nước kèm theo các chính sách khuyến khích cụ thể về thuế, về vốn, về đất đai v.v... Tổ chức phát động phong trào dùng hàng nội, nghiên cứu hình thức phù hợp nhất đối với công tác quảng cáo v.v...
Từng doanh nghiệp phải tích cực tổ chức nghiên cứu, soạn thảo chương trình kế hoạch phát triển của mình, đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và phù hợp với tiến trình hội nhập của nền kinh tế nước ta vào nền kinh tế thế giới. Các doanh nghiệp phải chủ động, khẩn trương xem xét lại chất lượng, mẫu mã, giá thành sản phẩm hàng hoá của mình, dự báo diễn biến thị trường, công nghệ v.v... Trên cơ sở đó, xác định chiến lược đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm.Tăng cường tính chủ động trong việc tạo vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh hơn nữa sự hợp tác giữa các doanh nghiệp để củng cố sức mạnh, hội nhập thành công.
Doanh nghiệp phải thực hiện một cách triệt để, nghiêm túc luật pháp, chính sách của Nhà nước, làm tròn các nghĩa vụ đối với Nhà nước, quan tâm đến quyền lợi, đời sống của người lao động góp phần cùng Nhà nước, địa phương thực hiện các chưong trình, chính sách xã hội.
5. Đối với các Hiệp hội, Hội ngành nghề:
Đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các Hiệp hội, Hội ngành nghề cho phù hợp với yêu cầu phát triển mới của các doanh nghiệp. Các Hiệp hội phải thực sự là tổ chức đại diện cho quyền lợi của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp một cách có hiệu quả trong việc tìm kiếm thị trường, cơ hội kinh doanh- đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc liên kết để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan thuộc Thủ tướng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các tổ chức liên quan, giám đốc các doanh nghiệp có trách nhiệm thi hành chỉ thị này./.
|
| THỦ TƯỚNG |
Directive No. 10/1999/CT-TTg of April 29, 1999, on settlement of petitions of enterprises
- Số hiệu: 10/1999/CT-TTg
- Loại văn bản: Chỉ thị
- Ngày ban hành: 29/04/1999
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 14/05/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
