Tóm tắt Điều lệ tạm thời số 898-TTg về việc thống nhất quản lý kinh doanh rượu
Điều lệ tạm thời số 898-TTg do Phủ Thủ tướng ban hành (do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký) là văn bản pháp lý đặt nền móng cho việc thiết lập hệ thống quản lý nhà nước thống nhất đối với hoạt động kinh doanh rượu. Mục tiêu của điều lệ nhằm điều hòa sản xuất, hướng dẫn sử dụng rượu hợp lý để tiết kiệm lương thực, bảo vệ sức khỏe nhân dân, đồng thời tăng nguồn thu cho công quỹ nhà nước.
Phạm vi áp dụng và cơ quan quản lý chuyên trách
- Định nghĩa về rượu và hoạt động kinh doanh: Rượu theo quy định tại điều lệ bao gồm tất cả các loại rượu, bia và rượu cồn. Hoạt động kinh doanh rượu bao gồm toàn bộ các khâu từ sản xuất, buôn bán, vận chuyển cho đến xuất khẩu và nhập khẩu.
- Cơ quan quản lý: Việc thống nhất quản lý hoạt động này do Cơ quan Thống nhất quản lý kinh doanh rượu ở các cấp (gọi tắt là Cơ quan Quản lý rượu), trực thuộc Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm phụ trách.
- Yêu cầu về cấp phép và đăng ký: Mọi tổ chức, cá nhân (thuộc thành phần kinh tế quốc doanh hay tư nhân) muốn kinh doanh rượu đều bắt buộc phải được Cơ quan Quản lý rượu cho phép và phải đăng ký kinh doanh tại Cơ quan Quản lý công thương theo đúng quy định tại Điều lệ số 489-TTg ngày 30 tháng 3 năm 1955.
Quy định về sản xuất, lưu thông và phân phối rượu
- Kiểm soát hoạt động sản xuất và lưu thông: Toàn bộ quá trình sản xuất, vận chuyển, xuất nhập khẩu rượu của các cơ sở quốc doanh và tư nhân đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các thể lệ, thủ tục do Bộ Tài chính ban hành và chịu sự giám sát, kiểm soát chặt chẽ của Cơ quan Quản lý rượu.
- Khu vực độc quyền nhà nước: Căn cứ vào tình hình thực tế về sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, Bộ Tài chính sẽ quy định các khu vực đặc biệt mà tại đó việc sản xuất rượu hoàn toàn do Cơ quan Quản lý rượu phụ trách. Tại các khu vực này, toàn bộ lượng rượu sản xuất ra phải được bán lại cho Cơ quan Quản lý rượu theo cơ chế thống nhất thu mua. Sau đó, cơ quan này sẽ bán lại cho tư nhân để bán lẻ cho người dân. Giá thu mua và giá bán lẻ đều do Cơ quan Quản lý rượu ấn định.
Công tác kiểm soát và chế tài xử lý vi phạm
Cơ quan Quản lý rượu được trao quyền kiểm soát trực tiếp các xưởng sản xuất, nhà buôn, các phương tiện vận chuyển và hoạt động xuất nhập khẩu rượu. Các nhà kinh doanh có nghĩa vụ hợp tác và hỗ trợ cán bộ quản lý thực thi nhiệm vụ. Các hành vi vi phạm điều lệ sẽ bị xử lý nghiêm khắc theo các mức độ sau:
- Vi phạm về thủ tục hành chính và thuế: Hành vi không thực hiện đúng các thủ tục về khai báo, lập và giữ sổ sách, vận chuyển, xuất nhập khẩu rượu hoặc chậm nộp thuế sẽ bị phạt tiền từ 5.000 đồng đến 500.000 đồng.
- Hành vi kinh doanh lậu và gian lận thương mại: Các hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển, xuất nhập khẩu rượu lậu; cố tình sản xuất rượu không đúng mẫu mực quy định; phá giá hoặc làm giảm phẩm chất rượu sẽ bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ số hàng hóa trái phép, tịch thu công cụ sản xuất và phương tiện vận chuyển, đồng thời bị phạt tiền từ 1 đến 5 lần giá trị tang vật vi phạm.
- Hành vi chống đối và gian lận nghiêm trọng: Trường hợp chống lại việc nộp thuế hàng hóa, cản trở sự kiểm soát của cán bộ quản lý, làm chứng từ giả hoặc che chở cho hành vi trốn thuế, ngoài việc bị xử phạt tiền và tịch thu tài sản, người vi phạm còn có thể bị truy tố trước Tòa án.
- Cơ chế sử dụng tiền phạt và tài sản tịch thu: Tiền phạt và tiền bán hàng hóa bị tịch thu sau khi khấu trừ tiền thuế hàng hóa sẽ được trích 30% để nộp vào công quỹ nhà nước. 70% còn lại được dùng để làm quỹ khen thưởng cho những người có công phát hiện và khám phá các vụ vi phạm.
Thẩm quyền xét xử và điều khoản thi hành
- Thẩm quyền xử lý: Việc xét xử và đưa ra quyết định xử lý đối với các vụ vi phạm về thống nhất quản lý kinh doanh rượu thuộc thẩm quyền phụ trách của Cơ quan Quản lý rượu.
- Quy định đặc thù vùng miền: Đối với các Khu Tự trị và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách thống nhất quản lý kinh doanh rượu sẽ được áp dụng theo các quy định riêng biệt để phù hợp với tình hình thực tế của từng địa phương.
- Trách nhiệm hướng dẫn: Bộ Tài chính chịu trách nhiệm ban hành các quy định chi tiết để hướng dẫn thi hành toàn bộ điều lệ này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT |
| Số: 898-TTg | Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 1956 |
THỐNG NHẤT QUẢN LÝ KINH DOANH RƯỢU
Điều 1. Điều lệ này quy định một số biện pháp để thực hiện việc thống nhất quản lý kinh doanh rượu nhằm mục đích điều hòa sản xuất và hướng dẫn dùng rượu để tiết kiệm lương thực và bảo vệ sức khỏe nhân dân, đồng thời tăng thu cho công quỹ.
Điều 2. Rượu nói trong điều lệ này gồm tất cả các loại rượu, kể cả rượu, kể cả rượu bia và rượu cồn.
Kinh doanh rượu nói trong điều lệ này gồm tất cả những hình thức kinh doanh sau đây: sản xuất, buôn bán, vận chuyển và xuất, nhập khẩu rượu.
Điều 3. Việc thống nhất quản lý kinh doanh rượu do Cơ quan Thống nhất quản lý kinh doanh ở các cấp (thuộc Bộ Tài chính) phụ trách. Cơ quan Thống nhất quản lý kinh doanh rượu ở các cấp dưới đây gọi tắt là Cơ quan Quản lý rượu.
Điều 4. Bất cứ ai (quốc doanh hay tư nhân) muốn kinh doanh rượu phải được Cơ quan Quản lý rượu cho phép, và phải xin đăng ký kinh doanh ở Cơ quan Quản lý công thương theo đúng điều lệ về đăng ký các loại kinh doanh công thương nghiệp số 489-TTg do Thủ tướng Phủ ban hành ngày 30 tháng 3 năm 1955.
Điều 5. Rượu do quốc doanh hay tư nhân sản xuất, đều phải theo đúng thể lệ và thủ tục do Bộ Tài chính quy định và chịu sự kiểm soát của Cơ quan Quản lý rượu.
Điều 6. Mọi việc vận chuyển, xuất nhập khẩu rượu, đều phải theo đúng thể lệ và thủ tục do Bộ Tài chính quy định và chịu sự kiểm soát của Cơ quan Quản lý rượu.
Điều 7. Căn cứ vào tình hình kinh doanh, tình hình sản xuất và dùng rượu, Bộ Tài chính sẽ quy định những khu vực trong đó việc sản xuất rượu hoàn toàn do Cơ quan Quản lý rượu phụ trách.
Ở những nơi này, tất cả số rượu sản xuất ra đều do Cơ quan Quản lý rượu thống nhất thu mua. Cơ quan Quản lý rượu sẽ bán lại cho tư nhân để bán lẻ cho nhân dân. Giá thu mua và giá bán do Cơ quan Quản lý rượu ấn định.
Điều 8. Cơ quan Quản lý rượu có quyền kiểm soát các xưởng sản xuất, các nhà buôn, vận chuyển và xuất, nhập khẩu rượu.
Các nhà kinh doanh có nhiệm vụ giúp đỡ Cơ quan Quản lý rượu thi hành nhiệm vụ.
Điều 9. Những người kinh doanh rượu làm trái điều lệ này tùy theo nặng nhẹ, sẽ bị xử phạt như sau:
1. Không theo đúng những thủ tục về khai báo, giữ sổ sách, buôn bán, vận chuyển, xất, nhập khẩu rượu và nộp thuế thì có thể bị phạt tiền từ 5.000đ đến 500.000đ.
2. Sản xuất, buôn bán, vận chuyển và xuất, nhập khẩu rượu lậu, cố tình sản xuất rượu không đúng mẫu mực, phá giá làm giảm phẩm chất rượu, thì ngoài việc bị tịch thu một phần hay toàn bộ hàng trái phép, bị tịch thu một phần hay toàn bộ công cụ sản xuất và vận chuyển, còn bị phạt tiền hàng từ một đến năm lần trị giá hàng trái phép.
3. Chống lại việc nộp thuế hàng hóa, chống lại việc kiểm soát của cán bộ Quản lý rượu, làm chứng từ giả, che chở lậu thuế, v.v… thì ngoài việc xử phạt theo khoản 1 và 2 nói trên, còn có thể bị truy tố trước Tòa án.
Điều 10. Tiền phạt và tiền bán hàng tịch thu sử dụng như sau: sau khi trừ tiền thuế hàng hóa, sẽ trích 30% nộp công quỹ, số còn lại dùng để thưởng cho những người có công trong việc khám phá các vụ vi phạm.
Điều 11. Việc xét xử các vụ vi phạm về thống nhất quản lý kinh doanh rượu do Cơ quan Quản lý rượu phụ trách.
Điều 12. Đối với các Khu Tự trị và các vùng đồng bào thiểu số, việc thống nhất quản lý kinh doanh rượu sẽ có quy định riêng.
Điều 13. Chi tiết thi hành điều lệ này do Bộ Tài chính quy định.
|
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1Thể lệ số về 09-TC-TT về việc chi tiết thi hành điều lệ tạm thời về thống nhất quản lý kinh doanh rượu do Bộ Tài Chính ban hành
- 2Nghị định 897-TTg năm 1956 về thành lập Cơ quan Thống nhất quản lý kinh doanh rượu ở các cấp do Thủ Tướng ban hành.
- 3Thông tư 465-TC-VP năm 1956 giải thích chính sách thống nhất quản lý kinh doanh rượu do Bộ Tài chính ban hành
- 4Luật Thương mại 1997
Điều lệ tạm thời số 898-TTg về việc thống nhất quản lý kinh doanh rượu do Phủ Thủ Tướng ban hành
- Số hiệu: 898-TTg
- Loại văn bản: Văn bản khác
- Ngày ban hành: 25/05/1956
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 15
- Ngày hiệu lực: 09/06/1956
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
