Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ban hành ngày 20 tháng 9 năm 2010 nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thúc đẩy tiến trình tự chủ tài chính, chuyển đổi mô hình hoạt động của các tổ chức khoa học công nghệ, đồng thời gia tăng các biện pháp ưu đãi, khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp khoa học công nghệ tại Việt Nam.
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 115/2005/NĐ-CP VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ CỦA TỔ CHỨC KHA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP
Nghị định số 96/2010/NĐ-CP đã đưa ra những điều chỉnh mang tính quyết định đối với mô hình tổ chức, phương thức cấp kinh phí và cơ chế tự chủ của các tổ chức khoa học và công nghệ (KH&CN) công lập:
- Quy định về hình thức tổ chức và lộ trình chuyển đổi bắt buộc:
- Các tổ chức nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và dịch vụ KH&CN đã tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên được hoạt động theo một trong hai hình thức: Tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên hoặc chuyển đổi thành Doanh nghiệp KH&CN.
- Đối với các tổ chức chưa tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên, chậm nhất đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013 phải hoàn thành việc chuyển đổi sang một trong hai hình thức nêu trên, hoặc phải tiến hành sáp nhập, giải thể.
- Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách, định mức kinh tế - kỹ thuật chuyên ngành phục vụ quản lý nhà nước phải kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả trước ngày 31 tháng 12 năm 2011 để tiếp tục được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán.
- Các tổ chức KH&CN công lập thành lập mới sau ngày Nghị định này có hiệu lực sẽ được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán tối đa trong 4 năm (đối với tổ chức thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là tối đa 6 năm) kể từ ngày thành lập.
- Các tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ vẫn tiếp tục là đơn vị sự nghiệp KH&CN của Nhà nước, trừ trường hợp chuyển đổi toàn bộ để thành lập doanh nghiệp KH&CN.
- Mở rộng quyền hoạt động sản xuất, kinh doanh:
- Các tổ chức KH&CN được phép sản xuất, kinh doanh hàng hóa và thực hiện các dịch vụ thuộc lĩnh vực chuyên môn hoặc các lĩnh vực khác theo quy định pháp luật.
- Được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và được phép sử dụng con dấu của đơn vị sự nghiệp công lập cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh này.
- Đổi mới phương thức cấp phát ngân sách nhà nước:
- Kinh phí hoạt động thường xuyên (lương, tiền công, chi bộ máy) được cấp theo phương thức khoán: cấp khoán đến hết ngày 31/12/2013 đối với tổ chức chưa tự chủ hoàn toàn; cấp khoán hằng năm đối với tổ chức nghiên cứu cơ bản, chiến lược, chính sách; cấp khoán tối đa 4-6 năm đối với tổ chức mới thành lập.
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ bao gồm: Nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng (hằng năm lập dự toán, nếu đã nhận kinh phí khoán thường xuyên thì không cấp trùng lặp trong dự toán này) và Nhiệm vụ KH&CN của Nhà nước (lập dự toán tham gia tuyển chọn, xét chọn).
- Ngân sách nhà nước cũng bảo đảm vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn đối ứng dự án, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định và các khoản kinh phí khác.
- Cơ chế chi trả tiền lương, tiền công và ưu đãi thuế:
- Tổ chức KH&CN có trách nhiệm chi trả lương, tiền công không thấp hơn mức lương theo ngạch, bậc, chức vụ và phụ cấp do Nhà nước quy định. Tùy vào kết quả tài chính và năng lực lao động, mức chi thực tế có thể cao hơn mức quy định của Nhà nước.
- Tiền lương của người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng do hai bên thỏa thuận, làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và được tính vào chi phí hợp lý trước thuế của tổ chức.
- Các tổ chức KH&CN tự chủ được hưởng các ưu đãi về thuế suất, miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp tương tự như đối với doanh nghiệp KH&CN.
- Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước:
- Thủ trưởng tổ chức KH&CN có trách nhiệm xây dựng Đề án đổi mới hoặc Đề án kiện toàn tổ chức và hoạt động để trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trước thời hạn quy định.
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành các văn bản hướng dẫn về lập dự toán, cấp kinh phí hoạt động thường xuyên, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, khoán kinh phí, giao quản lý và sử dụng tài sản nhà nước.
- Các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm phân loại tổ chức KH&CN trực thuộc, phê duyệt đề án chuyển đổi, đôn đốc kiểm tra và tập trung đầu tư phát triển cho các tổ chức này, đặc biệt là các tổ chức thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NGHỊ ĐỊNH SỐ 80/2007/NĐ-CP VỀ DOANH NGHIỆP KHA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Nghị định số 96/2010/NĐ-CP bổ sung nhiều cơ chế ưu đãi vượt trội nhằm hỗ trợ tối đa cho các doanh nghiệp KH&CN hình thành và phát triển bền vững:
- Xác định rõ hoạt động chính của doanh nghiệp KH&CN:
- Hoạt động chính là sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm, hàng hóa hình thành từ kết quả nghiên cứu KH&CN mà doanh nghiệp có quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp.
- Thực hiện các nhiệm vụ KH&CN và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật.
- Các doanh nghiệp thành lập trước ngày Nghị định này có hiệu lực, nếu đáp ứng đủ điều kiện, vẫn được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN và hưởng đầy đủ các ưu đãi.
- Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) gắn liền với tỷ lệ doanh thu:
- Doanh nghiệp KH&CN được miễn, giảm thuế TNDN như doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ kể từ khi có thu nhập chịu thuế.
- Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế theo tỷ lệ doanh thu sản phẩm KH&CN trên tổng doanh thu: Năm thứ nhất phải đạt từ 30% trở lên; Năm thứ hai đạt từ 50% trở lên; Từ năm thứ ba trở đi phải đạt từ 70% trở lên.
- Trong năm tài chính nào doanh nghiệp không đáp ứng được tỷ lệ doanh thu nêu trên thì sẽ không được hưởng ưu đãi miễn, giảm thuế TNDN cho năm đó.
- Ưu đãi đặc biệt về đất đai:
- Bên cạnh các hình thức giao đất, thuê đất thông thường, doanh nghiệp KH&CN được lựa chọn một trong hai hình thức ưu đãi: Thuê đất và được miễn tiền thuê đất, hoặc Giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất.
- Trường hợp Luật Đầu tư hoặc các văn bản pháp luật khác quy định mức ưu đãi cao hơn, doanh nghiệp KH&CN sẽ được áp dụng mức ưu đãi cao nhất đó.
- Chính sách bảo vệ quyền lợi cho cán bộ, viên chức chuyển đổi:
- Cán bộ, viên chức thuộc tổ chức KH&CN công lập đã ký hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động không xác định thời hạn sẽ tiếp tục được ký hợp đồng không xác định thời hạn khi chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp KH&CN.
- Được chuyển xếp lương theo thang, bảng lương của doanh nghiệp với hệ số lương bằng hoặc cao hơn gần nhất so với hệ số trước khi chuyển đổi.
- Trường hợp mức lương tại doanh nghiệp thấp hơn mức lương cũ, người lao động được bảo lưu hệ số lương cũ trong thời gian tối đa 18 tháng kể từ ngày chuyển đổi, trước khi sắp xếp lại theo thang bảng lương của doanh nghiệp.
HIỆU LỰC THI HÀNH VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Thời gian có hiệu lực: Nghị định số 96/2010/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 11 năm 2010.
- Trách nhiệm thi hành: Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 96/2010/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2010 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Khoa học và Công nghệ ngày 09 tháng 6 năm 2000;
Căn cứ Luật Doanh nghiệp ngày 29 tháng 11 năm 2005;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập với nội dung sau đây:
1. Sửa đổi, bổ sung Điều 4 như sau:
“Điều 4. Hình thức tổ chức và hoạt động
1. Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ đã tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên, được tổ chức và hoạt động theo một trong hai hình thức sau:
a) Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là tổ chức tự trang trải kinh phí);
b) Doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
2. Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ chưa tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên, chậm nhất đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013 phải tổ chức và hoạt động theo một trong hai hình thức quy định tại khoản 1 điều này hoặc được sáp nhập, giải thể.
4. Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ công lập thành lập sau ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động thường xuyên trong thời gian mới thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định này.
5. Tổ chức khoa học và công nghệ thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định tại Nghị định này tiếp tục là đơn vị sự nghiệp khoa học và công nghệ của Nhà nước (trừ trường hợp toàn bộ tổ chức chuyển đổi để thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ).”
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 6 như sau:
“1. Sản xuất, kinh doanh hàng hóa, thực hiện các dịch vụ thuộc lĩnh vực hoạt động chuyên môn của tổ chức khoa học và công nghệ và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật; được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và được sử dụng con dấu của đơn vị sự nghiệp công lập cho hoạt động sản xuất, kinh doanh”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 7 như sau:
“1. Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, bao gồm:
a) Kinh phí hoạt động thường xuyên
Kinh phí hoạt động thường xuyên bao gồm tiền lương, tiền công và tiền chi hoạt động bộ máy của tổ chức khoa học và công nghệ được quy định như sau:
- Đối với tổ chức khoa học và công nghệ quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này, kinh phí hoạt động thường xuyên được cấp theo phương thức khoán đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2013;
- Đối với tổ chức khoa học và công nghệ quy định tại khoản 4 Điều 4 Nghị định này, kinh phí hoạt động thường xuyên hằng năm được cấp theo phương thức khoán tối đa trong 4 năm (với các tổ chức thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tối đa trong 6 năm) kể từ ngày thành lập, mức kinh phí cấp do cơ quan có thẩm quyền quyết định trên cơ sở Đề án thành lập tổ chức khoa học và công nghệ đã được phê duyệt.
b) Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ, bao gồm:
- Nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng: là nhiệm vụ được cơ quan có thẩm quyền giao, quy định tại Quyết định thành lập, điều lệ hoặc Quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị. Hằng năm, tổ chức khoa học và công nghệ lập dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, trong đó có kinh phí hoạt động thường xuyên. Đối với tổ chức khoa học và công nghệ đang được cấp kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán, Nhà nước không cấp kinh phí hoạt động thường xuyên trong dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ này;
- Nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước: là nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng kinh phí của Nhà nước. Hằng năm, tổ chức khoa học và công nghệ lập dự toán kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ để tham gia xét chọn, tuyển chọn, trong đó có kinh phí hoạt động thường xuyên.
c) Vốn đầu tư xây dựng cơ bản; vốn đối ứng dự án; kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định.
d) Kinh phí khác (nếu có).”
4. Sửa đổi, bổ sung đoạn thứ nhất khoản 2 Điều 8 như sau:
“2. Về chi tiền lương, tiền công
Tổ chức khoa học và công nghệ có trách nhiệm bảo đảm chi trả tiền lương, tiền công không thấp hơn mức tiền lương, tiền công theo ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương (nếu có) do Nhà nước quy định đối với cán bộ, viên chức và người lao động tại các tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. Tùy thuộc vào kết quả hoạt động tài chính của đơn vị và năng lực, trình độ của người lao động, mức chi trả tiền lương, tiền công thực tế có thể cao hơn mức Nhà nước quy định. Tiền lương, tiền công của người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động do hai bên thoả thuận và được ghi trong hợp đồng, là căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và được tính vào chi phí hợp lý trước thuế của tổ chức khoa học và công nghệ.”
5. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 9 như sau:
“5. Được hưởng thuế suất ưu đãi, miễn thuế, giảm thuế như đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ.”
6. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 13 như sau:
“a) Thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ có trách nhiệm xây dựng Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động (đối với các đối tượng thuộc khoản 1, khoản 2 Điều 4) hoặc Đề án kiện toàn tổ chức và hoạt động (đối với các đối tượng thuộc khoản 3 Điều 4), trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để được phê duyệt trước thời điểm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 4 Nghị định này.”
“Điều 16. Trách nhiệm của Bộ Tài chính
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng và ban hành các văn bản sau đây:
2. Quy định về khoán kinh phí hoạt động thường xuyên đối với tổ chức khoa học và công nghệ quy định tại khoản 3 Điều 4 theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định này.
3. Quy định về việc giao quản lý tài sản của Nhà nước cho các tổ chức khoa học và công nghệ có hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; sử dụng tài sản của Nhà nước cho các hoạt động nghiên cứu khoa học và sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
4. Quy định nội dung, định mức và thủ tục cấp kinh phí quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định này.”
8. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 17 như sau:
“2. Phân loại các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc theo hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ; chỉ đạo các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc thực hiện các quy định tại Nghị định này; phê duyệt đề án của các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 4 Nghị định này và đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện đề án;”
9. Bổ sung khoản 4 Điều 17 như sau:
“4. Tập trung đầu tư phát triển cho các tổ chức khoa học và công nghệ trực thuộc trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đặc biệt là tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.”
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về doanh nghiệp khoa học và công nghệ với các nội dung sau đây:
1. Sửa đổi, bổ sung đoạn thứ hai Điều 2 như sau:
“Hoạt động chính của doanh nghiệp khoa học và công nghệ là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ do doanh nghiệp được quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp; thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ thực hiện sản xuất, kinh doanh và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật”.
2. Bổ sung khoản 5 Điều 8 như sau:
“Doanh nghiệp thành lập trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, nếp đáp ứng đủ điều kiện, được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ và được hưởng các ưu đãi đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ.”
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 10 như sau:
“2. Được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp như doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ kể từ khi có thu nhập chịu thuế với điều kiện: doanh thu của các sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả khoa học và công nghệ trong năm thứ nhất từ 30% tổng doanh thu trở lên, năm thứ hai từ 50% tổng doanh thu trở lên và năm thứ ba trở đi từ 70% tổng doanh thu trở lên của doanh nghiệp khoa học và công nghệ.
Doanh nghiệp khoa học và công nghệ không được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với năm tài chính không đáp ứng được điều kiện về tỷ lệ doanh thu nêu trên.”
4. Bổ sung khoản 9 Điều 10 như sau:
“9. Ngoài các hình thức khác về giao đất, thuê đất theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp khoa học và công nghệ được lựa chọn việc sử dụng đất theo một trong hai hình thức sau đây:
a) Cho thuê đất và miễn tiền thuê đất;
b) Giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất.
Trong trường hợp Luật Đầu tư và văn bản pháp luật khác có quy định doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hưởng ưu đãi cao hơn Nghị định này thì doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hưởng ưu đãi theo các văn bản đó.”
5. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 11 như sau:
“Cán bộ, viên chức thuộc tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã được ký hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động không xác định thời hạn sẽ được tiếp tục ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn khi làm việc tại doanh nghiệp khoa học và công nghệ và được chuyển xếp lương theo thang, bảng lương của doanh nghiệp với hệ số lương bằng hoặc cao hơn gần nhất với hệ số lương được hưởng trước khi chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Cán bộ, viên chức được bảo lưu hệ số lương trong thời gian tối đa 18 tháng kể từ ngày chuyển sang làm việc tại doanh nghiệp khoa học và công nghệ nếu có mức lương tại doanh nghiệp khoa học và công nghệ thấp hơn mức lương tại tổ chức khoa học và công nghệ trước khi chuyển đổi, sau đó được sắp xếp lại theo thang, bảng lương áp dụng đối với doanh nghiệp.”
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 06 tháng 11 năm 2010.
2. Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị định này.
3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
|
Nơi nhận: | TM. CHÍNH PHỦ |
- 1Decree No. 80/2007/ND-CP of May 19, 2007, on science and technology enterprises.
- 2Decree of Government No. 115/2005/ND-CP of September 5th, 2005, Providing for the autonomy and self - management mechanism applicable to public scientific and technological organizations
- 3Decree No. 13/2019/ND-CP dated February 01, 2019
- 4Decree No. 13/2019/ND-CP dated February 01, 2019
Decree No. 96/2010/ND-CP of September 20, 2010, amending and supplementing a number of articles of the Government''s Decree No. 115/2005/ND-CP of September 05, 2005, on the mechanism of autonomy and accountability of public science and technology organizations, and the Government''s Decree No. 80/2007/ND-CP of may 19, 2007, on science and technology enterprises
- Số hiệu: 96/2010/ND-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 20/09/2010
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 06/11/2010
- Ngày hết hiệu lực: 20/03/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
