Nghị định số 29/CP ban hành ngày 27 tháng 5 năm 1993 quy định về các biện pháp khuyến khích người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thu hút nguồn lực kiều hối và trí tuệ của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước, thông qua việc đưa ra các chính sách ưu đãi đặc thù bên cạnh các quy định chung dành cho nhà đầu tư nước ngoài.
Đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh
Nghị định xác định rõ các đối tượng và phạm vi được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư bao gồm:
- Đối tượng áp dụng: Bao gồm mọi cá nhân có quốc tịch Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam có quốc tịch nước ngoài (gọi chung là người Việt Nam ở nước ngoài). Đồng thời, chính sách này cũng áp dụng cho các tổ chức kinh tế ở nước ngoài được thành lập bằng nguồn vốn của người Việt Nam khi tiến hành đầu tư về Việt Nam.
- Phạm vi ưu đãi: Các ưu đãi quy định tại Nghị định này là những điều khoản đặc biệt dành riêng cho người Việt Nam ở nước ngoài, được áp dụng song song và bổ sung ngoài những ưu đãi chung mà Nhà nước Việt Nam dành cho các nhà đầu tư nước ngoài theo pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Chính sách bảo hộ quyền sở hữu và quyền góp vốn đầu tư
Nhà nước Việt Nam cam kết bảo đảm các quyền lợi hợp pháp cho nhà đầu tư kiều bào:
- Bảo hộ tài sản: Nhà đầu tư được bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và mọi tài sản hợp pháp khác. Họ có toàn quyền chuyển giao, thừa kế tài sản, vốn và lợi nhuận cho công dân Việt Nam ở trong nước theo quy định của pháp luật Việt Nam.
- Quyền hợp tác, góp vốn: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép chung vốn với các doanh nghiệp trong nước để thành lập "Bên Việt Nam", từ đó tiến hành hợp tác đầu tư với một hoặc nhiều bên nước ngoài khác.
Các ưu đãi vượt trội về thuế và quản lý ngoại hối
Để tăng tính cạnh tranh và thu hút dòng vốn kiều bào, Nghị định quy định các mức ưu đãi tài chính cụ thể:
- Giảm thuế lợi tức: Nhà đầu tư là người Việt Nam ở nước ngoài được giảm 20% số thuế lợi tức phải nộp theo quy định chung tại Điều 66 và Điều 67 của Nghị định số 18-CP ngày 16-4-1993. Tuy nhiên, ưu đãi giảm 20% này sẽ không được áp dụng đối với các trường hợp dự án đã được hưởng mức thuế suất ưu đãi đặc biệt là 10% lợi nhuận.
- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài: Khi tiến hành chuyển lợi nhuận hợp pháp từ hoạt động đầu tư ra nước ngoài, nhà đầu tư chỉ phải nộp thuế suất thuế chuyển lợi nhuận là 5% trên tổng số lợi nhuận chuyển ra.
- Hỗ trợ giao dịch ngoại tệ: Các xí nghiệp có vốn đầu tư của kiều bào hoặc các bên hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng được phép mua, bán ngoại tệ tại trung tâm giao dịch ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm bảo đảm nguồn ngoại tệ hợp lý, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Quyền đại diện, thủ tục xuất nhập cảnh và văn phòng đại diện
Nghị định tạo điều kiện thuận lợi tối đa về mặt hành chính và nhân sự cho nhà đầu tư:
- Ủy quyền đại diện: Nhà đầu tư có quyền ủy quyền cho người Việt Nam ở trong nước hoặc một người Việt Nam định cư ở nước ngoài khác thay mặt mình tham gia vào Hội đồng Quản trị của doanh nghiệp.
- Ưu đãi về thị thực (Visa):
- Đối với người về nước để chuẩn bị, khảo sát đầu tư: Được cấp thị thực nhập xuất cảnh nhiều lần với thời hạn từ 3 tháng đến 6 tháng, và có thể được gia hạn mỗi lần thêm 6 tháng.
- Đối với người vào Việt Nam để thực hiện giấy phép đầu tư hoặc trực tiếp kinh doanh: Được cấp thị thực nhập xuất cảnh nhiều lần với thời hạn 1 năm, và có thể kéo dài hơn tùy theo tính chất cụ thể của từng trường hợp.
- Thành lập văn phòng đại diện: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được áp dụng các điều kiện giảm nhẹ, đơn giản hóa thủ tục so với quy định thông thường của Chính phủ khi xem xét, cấp phép đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam nhằm xúc tiến các hoạt động đầu tư và kinh doanh.
Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành
Các điều khoản cuối cùng quy định về trách nhiệm triển khai thực hiện Nghị định:
- Hiệu lực thi hành: Nghị định số 29/CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành (ngày 27 tháng 5 năm 1993).
- Trách nhiệm hướng dẫn: Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư; Trưởng ban Ban Việt kiều trung ương; cùng Bộ trưởng các Bộ: Thương mại, Nội vụ, Ngoại giao có trách nhiệm phối hợp ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
- Trách nhiệm thi hành: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thi hành nghiêm túc các quy định tại Nghị định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 29-CP | Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 1993 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 29 tháng 12 năm 1987; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 1990 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 23 tháng 12 năm 1992;
Để khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước, góp phần xây dựng đất nước;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư và Trưởng ban Ban Việt kiều Trung ương,
NGHỊ ĐỊNH:
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện giấy phép đầu tư hoặc kinh doanh được cấp thị thực nhập cảnh, xuất cảnh có giá trị nhiều lần trong thời hạn 1 năm và có thể dài hơn tuỳ từng trường hợp cụ thể.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
Decree No. 29/CP of May 27, 1993, on the measures encouraging the overseas Vietnamese to invest in Vietnam
- Số hiệu: 29/CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 27/05/1993
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 27/05/1993
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
