Nghị định số 163/2017/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2017, quy định chi tiết về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 02 năm 2018, thay thế hoàn toàn cho Nghị định số 140/2007/NĐ-CP trước đây.
1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Phạm vi điều chỉnh: Quy định khung pháp lý về điều kiện đầu tư, kinh doanh đối với các ngành nghề dịch vụ logistics và mức trần giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân cung cấp dịch vụ logistics.
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng trực tiếp đối với các thương nhân thực hiện hoạt động kinh doanh dịch vụ logistics và mọi tổ chức, cá nhân có quyền, nghĩa vụ liên quan đến hoạt động logistics trên lãnh thổ Việt Nam.
2. Phân loại các dịch vụ logistics được cung cấp
Điều 3 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP hệ thống hóa và phân loại dịch vụ logistics thành 17 nhóm hoạt động cụ thể bao gồm:
- Dịch vụ bốc dỡ hàng hóa container (không bao gồm dịch vụ tại các cảng hàng không, sân bay).
- Dịch vụ kho bãi container thuộc nhóm dịch vụ hỗ trợ vận tải biển.
- Dịch vụ kho bãi hỗ trợ cho tất cả các phương thức vận tải khác.
- Dịch vụ chuyển phát thư từ, hàng hóa.
- Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa.
- Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm toàn bộ dịch vụ thông quan hàng hóa).
- Các dịch vụ hỗ trợ khác: Kiểm tra chứng từ/vận đơn, môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, lấy mẫu và đo đạc xác định trọng lượng, tiếp nhận và chấp nhận hàng hóa, chuẩn bị chứng từ vận tải.
- Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, bán lẻ (quản lý hàng lưu kho, thu gom, phân loại, tập hợp hàng hóa và dịch vụ giao nhận hàng).
- Dịch vụ vận tải hàng hóa bằng đường biển.
- Dịch vụ vận tải hàng hóa thông qua đường thủy nội địa.
- Dịch vụ vận tải hàng hóa bằng đường sắt.
- Dịch vụ vận tải hàng hóa bằng đường bộ.
- Dịch vụ vận tải hàng không.
- Dịch vụ vận tải đa phương thức kết hợp nhiều phương thức vận chuyển.
- Dịch vụ phân tích, thử nghiệm và kiểm định kỹ thuật.
- Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác chưa được định danh cụ thể.
- Các dịch vụ logistics phát sinh khác theo thỏa thuận giữa thương nhân và khách hàng, bảo đảm tuân thủ nguyên tắc cơ bản của Luật Thương mại.
3. Điều kiện chung về kinh doanh dịch vụ logistics
- Điều kiện kinh doanh chuyên ngành: Thương nhân kinh doanh từng phân nhóm dịch vụ cụ thể bắt buộc phải đáp ứng toàn bộ các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định chuyên ngành tương ứng của pháp luật Việt Nam.
- Điều kiện ứng dụng công nghệ/điện tử: Trường hợp thương nhân thực hiện một phần hoặc toàn bộ quy trình dịch vụ logistics qua môi trường điện tử (Internet, mạng viễn thông di động, hệ thống mạng mở), bên cạnh các điều kiện chuyên ngành còn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật về thương mại điện tử.
4. Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài (thuộc thành viên WTO)
Nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia thị trường dịch vụ logistics tại Việt Nam phải tuân thủ tỷ lệ sở hữu vốn và các yêu cầu hoạt động cụ thể cho từng lĩnh vực:
- Vận tải hàng hóa đường biển (trừ vận tải nội địa): Được thành lập công ty vận hành đội tàu mang cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ phần với tỷ lệ vốn nước ngoài tối đa 49%. Định biên thuyền viên nước ngoài trên tàu không quá 1/3 tổng số thuyền viên; Thuyền trưởng hoặc Thuyền phó thứ nhất bắt buộc phải là công dân Việt Nam. Doanh nghiệp vận tải biển nước ngoài cũng được phép lập doanh nghiệp hoặc góp vốn theo quy định.
- Xếp dỡ container hỗ trợ vận tải biển: Được phép thành lập doanh nghiệp, góp vốn hoặc mua cổ phần với tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 50%. Được phép hiện diện thương mại qua hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC). Một số khu vực có thể áp dụng quy hoạch riêng hoặc cấp phép đặc thù.
- Xếp dỡ container hỗ trợ mọi phương thức vận tải khác (trừ sân bay): Tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài tối đa không quá 50%.
- Dịch vụ thông quan (hỗ trợ vận tải biển): Cho phép thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn nhưng bắt buộc phải có vốn góp của nhà đầu tư trong nước (liên doanh); được phép đầu tư theo hình thức Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC).
- Nhóm dịch vụ kiểm tra vận đơn, môi giới, kiểm định, lấy mẫu, nhận hàng, làm chứng từ vận tải: Được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn/mua cổ phần nhưng bắt buộc phải có phần vốn góp của nhà đầu tư trong nước.
- Vận tải hàng hóa bằng đường thủy nội địa và đường sắt: Được phép góp vốn, thành lập doanh nghiệp liên doanh với tỷ lệ vốn nước ngoài tối đa không quá 49%.
- Vận tải hàng hóa đường bộ: Được triển khai qua hình thức hợp đồng BCC hoặc thành lập doanh nghiệp, góp vốn liên doanh với tỷ lệ vốn nước ngoài không vượt quá 51%. Yêu cầu bắt buộc 100% đội ngũ lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.
- Vận tải hàng không: Tuân thủ chặt chẽ theo các quy định riêng của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam.
- Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật:
- Dịch vụ phục vụ thẩm quyền của Chính phủ: Được lập doanh nghiệp có vốn trong nước sau 03 năm, hoặc doanh nghiệp không hạn chế vốn nước ngoài sau 05 năm kể từ khi dịch vụ tư nhân được cấp phép hoạt động.
- Tuyệt đối không được phép kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp chứng nhận đối với các phương tiện vận tải.
- Bị giới hạn địa bàn hoạt động tại các khu vực nhạy cảm vì lý do bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia.
- Nguyên tắc áp dụng điều ước quốc tế: Nếu nhà đầu tư nước ngoài thuộc diện điều chỉnh của nhiều điều ước quốc tế có cam kết khác nhau, nhà đầu tư được quyền lựa chọn áp dụng điều kiện thuận lợi nhất theo một trong các điều ước đó.
5. Giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương nhân logistics phải chịu bồi thường cho khách hàng đối với các tổn thất, hư hỏng thực tế phát sinh trong quá trình tổ chức dịch vụ:
- Áp dụng luật chuyên ngành: Trường hợp pháp luật chuyên ngành (hàng hải, hàng không, đường bộ...) có quy định cụ thể về mức giới hạn trách nhiệm thì thực hiện theo văn bản chuyên ngành đó.
- Trường hợp áp dụng theo thỏa thuận hoặc mức mặc định: Nếu luật liên quan không quy định và các bên không có thỏa thuận riêng, giới hạn trách nhiệm xử lý như sau:
- Nếu khách hàng không thông báo trước về giá trị hàng hóa: Mức bồi thường tối đa không vượt quá 500 triệu đồng cho mỗi yêu cầu bồi thường.
- Nếu khách hàng đã thông báo trước giá trị hàng hóa và được thương nhân logistics xác nhận: Mức bồi thường tối đa không vượt quá toàn bộ giá trị khai báo của lô hàng đó.
- Trường hợp thực hiện dịch vụ đa công đoạn: Nếu thương nhân đảm nhận nhiều khâu, nhiều công đoạn logistics có các mức giới hạn trách nhiệm khác nhau thì giới hạn trách nhiệm chung sẽ áp dụng theo mức của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.
6. Điều khoản chuyển tiếp và tổ chức thực hiện
- Điều khoản chuyển tiếp: Toàn bộ thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đã thực hiện đăng ký hoặc được cấp phép hợp pháp trước ngày 20/02/2018 được quyền tiếp tục hoạt động theo phạm vi đã đăng ký, cấp phép mà không cần thực hiện thủ tục lại.
- Hiệu lực thi hành: Nghị định có hiệu lực từ ngày 20 tháng 02 năm 2018, bãi bỏ Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05/9/2007.
- Trách nhiệm tổ chức: Bộ Công Thương chủ trì theo dõi, tổ chức thi hành; các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp triển khai thi hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 163/2017/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2017 |
Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật đầu tư ngày 26 tháng 11 năm 2014;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công Thương,
Chính phủ ban hành Nghị định quy định về kinh doanh dịch vụ logistics.
Nghị định này quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics.
Nghị định này áp dụng đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Điều 3. Phân loại dịch vụ logistics
Dịch vụ logistics được cung cấp bao gồm:
1. Dịch vụ xếp dỡ container, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay.
2. Dịch vụ kho bãi container thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển.
3. Dịch vụ kho bãi thuộc dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải.
4. Dịch vụ chuyển phát.
5. Dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa.
6. Dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan (bao gồm cả dịch vụ thông quan).
7. Dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải.
8. Dịch vụ hỗ trợ bán buôn, hỗ trợ bán lẻ bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa và giao hàng.
9. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển.
10. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa.
11. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt.
12. Dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ.
13. Dịch vụ vận tải hàng không.
14. Dịch vụ vận tải đa phương thức.
15. Dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật.
16. Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.
17. Các dịch vụ khác do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng thỏa thuận phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Luật thương mại.
Điều 4. Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
1. Thương nhân kinh doanh các dịch vụ cụ thể thuộc dịch vụ logistics quy định tại Điều 3 Nghị định này phải đáp ứng các điều kiện đầu tư, kinh doanh theo quy định của pháp luật đối với dịch vụ đó.
2. Thương nhân tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh logistics bằng phương tiện điện tử có kết nối mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác, ngoài việc phải đáp ứng theo quy định của pháp luật đối với các dịch vụ cụ thể quy định tại Điều 3 Nghị định này, còn phải tuân thủ các quy định về thương mại điện tử.
3. Điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics:
Ngoài việc đáp ứng các điều kiện, quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, nhà đầu tư nước ngoài thuộc nước, vùng lãnh thổ là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới được cung cấp dịch vụ logistics theo các điều kiện sau:
a) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải biển (trừ vận tải nội địa):
- Được thành lập các công ty vận hành đội tàu treo cờ Việt Nam hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%. Tổng số thuyền viên nước ngoài làm việc trên các tàu treo cờ quốc tịch Việt Nam (hoặc được đăng ký ở Việt Nam) thuộc sở hữu của các công ty này tại Việt Nam không quá 1/3 định biên của tàu. Thuyền trưởng hoặc thuyền phó thứ nhất phải là công dân Việt Nam.
- Công ty vận tải biển nước ngoài được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp.
b) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ vận tải biển (có thể dành riêng một số khu vực để cung cấp các dịch vụ hoặc áp dụng thủ tục cấp phép tại các khu vực này), được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
c) Trường hợp kinh doanh dịch vụ xếp dỡ container thuộc các dịch vụ hỗ trợ mọi phương thức vận tải, trừ dịch vụ cung cấp tại các sân bay, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 50%.
d) Trường hợp kinh doanh dịch vụ thông quan thuộc dịch vụ hỗ trợ vận tải biển, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước. Nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại tại Việt Nam dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh.
đ) Trường hợp kinh doanh các dịch vụ khác, bao gồm các hoạt động sau: Kiểm tra vận đơn, dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa, kiểm định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác định trọng lượng; dịch vụ nhận và chấp nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận tải, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước.
e) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường thủy nội địa, dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường sắt, được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 49%.
g) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hóa thuộc dịch vụ vận tải đường bộ, được thực hiện thông qua hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc được thành lập doanh nghiệp hoặc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, trong đó tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không quá 51%. 100% lái xe của doanh nghiệp phải là công dân Việt Nam.
h) Trường hợp kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng không.
i) Trường hợp kinh doanh dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật
- Đối với những dịch vụ được cung cấp để thực hiện thẩm quyền của Chính phủ được thực hiện dưới hình thức doanh nghiệp trong đó có vốn góp của nhà đầu tư trong nước sau ba năm hoặc dưới hình thức doanh nghiệp trong đó không hạn chế vốn góp nhà đầu tư nước ngoài sau năm năm, kể từ khi nhà cung cấp dịch vụ tư nhân được phép kinh doanh các dịch vụ đó.
- Không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và cấp giấy chứng nhận cho các phương tiện vận tải.
- Việc thực hiện dịch vụ phân tích và kiểm định kỹ thuật bị hạn chế hoạt động tại các khu vực địa lý được cơ quan có thẩm quyền xác định vì lý do an ninh quốc phòng.
4. Trường hợp nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc tế có quy định khác nhau về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics, nhà đầu tư được lựa chọn áp dụng điều kiện đầu tư quy định tại một trong các điều ước đó.
1. Giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng đối với những tổn thất phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện dịch vụ logistics theo quy định tại Nghị định này.
2. Trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thì thực hiện theo quy định của pháp luật liên quan.
3. Trường hợp pháp luật liên quan không quy định giới hạn trách nhiệm thì giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không có thoả thuận thì thực hiện như sau:
a) Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về trị giá của hàng hóa thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường.
b) Trường hợp khách hàng đã thông báo trước về trị giá của hàng hóa và được thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics xác nhận thì giới hạn trách nhiệm sẽ không vượt quá trị giá của hàng hóa đó.
4. Giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.
Điều 6. Điều khoản chuyển tiếp
Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đã được đăng ký, cấp phép thực hiện dịch vụ logistics trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực được tiếp tục thực hiện hoạt động theo nội dung đăng ký, cấp phép.
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 02 năm 2018.
2. Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05 tháng 9 năm 2007 quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
1. Bộ Công Thương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
|
| TM. CHÍNH PHỦ |
- 1Decree of Government No. 140/2007/ND-CP of providing detailed regulations on the commercial Law regarding conditions for engaging in logistic services business, and limitations on liability of logistic services business entities
- 2Decree of Government No. 140/2007/ND-CP of providing detailed regulations on the commercial Law regarding conditions for engaging in logistic services business, and limitations on liability of logistic services business entities
Decree No. 163/2017/ND-CP dated December 30, 2017
- Số hiệu: 163/2017/ND-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 30/12/2017
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Xuân Phúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/02/2018
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra