Quyết định số 773/QĐ-TTg ngày 09 tháng 8 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Dự án Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề là một văn bản pháp lý quan trọng, đặt nền móng cho việc hiện đại hóa và nâng cao chất lượng hệ thống đào tạo nghề tại Việt Nam. Dự án sử dụng nguồn vốn vay từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và các nguồn vốn tài trợ khác nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu chiến lược và các hợp phần cốt lõi của Dự án (Điều 1)
Điều 1 của Quyết định quy định rõ ràng về mục tiêu tổng thể và các nội dung đầu tư trọng điểm của Dự án Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề, bao gồm:
- Mục tiêu tổng quát: Nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính thực tiễn của hệ thống giáo dục kỹ thuật và dạy nghề; gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động và các doanh nghiệp; tăng cường cơ hội tiếp cận dịch vụ dạy nghề cho các đối tượng chính sách và người nghèo.
- Hợp phần 1 - Hoàn thiện khung chính sách và quản lý: Tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề; nâng cao năng lực quản lý nhà nước cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan; thiết lập hệ thống kiểm định chất lượng và đăng ký hoạt động dạy nghề.
- Hợp phần 2 - Nâng cấp các trường dạy nghề trọng điểm: Đầu tư đồng bộ về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại cho khoảng 15 trường dạy nghề trọng điểm trên cả nước, biến các cơ sở này thành những trung tâm đào tạo chất lượng cao, dẫn dắt hệ thống dạy nghề quốc gia.
- Hợp phần 3 - Phát triển chương trình và bồi dưỡng giáo viên: Đổi mới phương pháp dạy và học; xây dựng chương trình đào tạo theo module kỹ năng nghề nghiệp; biên soạn giáo trình mới; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy nghề và cán bộ quản lý.
Cơ cấu nguồn vốn và cơ chế tài chính (Điều 1 & Điều 3)
Quyết định xác định rõ quy mô tài chính và phương thức quản lý dòng vốn để bảo đảm tính khả thi và minh bạch của dự án:
- Tổng mức đầu tư: Dự án có tổng kinh phí dự kiến khoảng 120 triệu USD, trong đó nguồn vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) đóng vai trò chủ đạo (khoảng 54 triệu USD), kết hợp với vốn đồng tài trợ từ Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Chính phủ Nhật Bản (JICA) và các nhà tài trợ khác.
- Vốn đối ứng trong nước: Chính phủ Việt Nam cam kết bố trí đầy đủ nguồn vốn đối ứng từ ngân sách nhà nước để thực hiện các hạng mục giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ bản, thuế và các chi phí quản lý dự án liên quan.
- Cơ chế tài chính: Áp dụng cơ chế cấp phát ngân sách đối với các hoạt động hành chính, xây dựng thể chế, đào tạo giáo viên và cơ chế cho vay lại một phần đối với các cơ sở đào tạo có khả năng tự chủ tài chính theo quy định của Bộ Tài chính.
Tổ chức thực hiện và quản lý dự án (Điều 2)
Để bảo đảm tiến độ và chất lượng triển khai, Thủ tướng Chính phủ giao trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan đầu mối:
- Cơ quan chủ quản dự án: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm toàn diện trước Chính phủ về việc quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện toàn bộ dự án.
- Ban Quản lý dự án (PMU): Thành lập Ban Quản lý dự án Trung ương trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để trực tiếp điều phối các hoạt động hàng ngày, quản lý đấu thầu, giám sát thi công và giải ngân nguồn vốn theo đúng cam kết với nhà tài trợ.
Trách nhiệm phối hợp của các Bộ, ngành và địa phương (Điều 4)
Sự thành công của dự án đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ mang tính liên ngành giữa các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính: Có trách nhiệm cân đối, bố trí vốn đối ứng hàng năm trong kế hoạch ngân sách nhà nước; phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoàn tất các thủ tục rút vốn, giải ngân và giám sát tài chính chặt chẽ.
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Đại diện cho Chính phủ trong việc thực hiện các giao dịch quốc tế, quản lý tài khoản đặc biệt của dự án mở tại ngân hàng phục vụ việc thanh toán cho các nhà thầu quốc tế và trong nước.
- Các Bộ chủ quản và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Nơi có các trường dạy nghề trọng điểm được thụ hưởng dự án có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trong việc chỉ đạo giải phóng mặt bằng, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tạo điều kiện thuận lợi nhất để triển khai dự án trên địa bàn.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THE PRIME MINISTER OF GOVERNMENT | SOCIALIST REPUBLIC OF VIET NAM |
| No: 773/QD-TTg | Hanoi, August 9, 1999 |
DECISION
APPROVING THE TECHNICAL AND VOCA-TIONAL EDUCATION PROJECT
THE PRIME MINISTER
Pursuant to the Law on Organization of the Government of September 30, 1992;
Pursuant to Decree No. 52/1999/ND-CP of July 8, 1999 of the Government issuing the Regulation on Investment and Construction Management;
Pursuant to Decree No 87/CP of August 5, 1997 of the Government promulgating the Regulation on Management and Use of Official Development Assistance source;
At the proposals of the Minister of Labor, War Invalids and Social Affairs and the Minister of Planning and Investment;
Article 1.- To approve the Technical and Vocational Education Project with the following major contents:
1. Name of the project: Technical and Vocational Education Project.
2. The body in charge of the project management: The Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs.
...
...
...
- To reform technical and vocational education system in order to train out a contingent of qualified and skilled laborers, thus meeting the requirements of the cause of national industrialization and modernization.
- To raise training quality of 15 key schools including vocational training teachers’ training schools and vocational training and technical workers’ training schools representing various branches and regions in the whole country.
- To strengthen vocational training system management apparatus through new policies; the perfection of organizational structure and the professional training for the contingent of cadres.
4. Contents of the project:
a) To reform the technical and vocational education system:
- To set up and invest in a labor market-related information system so as to collect information - data on employment, vocational training demand and capability, which shall serve as a basis for the work of management, training, occupational consultancy and employment services and to raise the efficiency of vocational training system; to associate the managerial work with the training establishments and the training with production.
- To improve training quality of the technical and vocational education system including the formulation and application of a standardized training curriculum to main branches and occupations such as construction, engineering and metallurgy, electricity and electronics, health care, agricultural products and foodstuff treating and preservation, refrigerators and air-conditioners, information technology, chemistry and rubber processing, handicrafts and fine art; to compile of manuals guiding the teaching curriculum, teaching materials, teaching documents on computer software.
- To train teachers to meet requirements of teaching under the new curriculum. To train specialists in compilation of teaching materials, designing document to guide the editing and production of video-tapes and computer software for vocational training.
b) To invest in 15 key schools in order to improve teaching curriculum, raise professional level of teachers, upgrade the technical and material bases; and invest in equipment procurement. The determination of the list of these 15 schools shall comply with Article 2 of this Decision.
...
...
...
6. Capital sources:
- Foreign loans and non-refundable aid: equivalent to USD 100 million at current time, of which:
+ Loans from the Asian Development Bank (ADB): USD 54 million
+ Loans from the French Development Agency (AFD): USD 15 million
+ Loans from the North-European Development Fund (NFD): USD 7 million
+ Non-refundable aid from Japan International Cooperation Agency (JICA): USD 24 million
- Domestic reciprocal capital: USD 21 million, equivalent to VND 292 billion, of which:
+ Reserve capital: USD 2.1 million, equivalent to VND 29 billion
+ Capital spent on taxes: USD 4.8 million, equivalent to VND 67 billion
...
...
...
+ Capital contributed by the units participating in the project (in kind and regular funding): USD 6.35 million, equivalent to VND 88 billion
7. Form of effecting the investment: bidding according to current regulations.
Article 2.- The Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs in entrusted to assume the prime responsibility and co-ordinate with relevant agencies in determining the list of 15 key vocational training schools to be submitted to the Prime Minister for approval before the project’s credit agreement takes effect.
The schools to be invested under the project must ensure that the vocational training objectives shall be consistently carried out.
Article 3.- The Ministry of Labor, War Invalids and Social Affairs shall co-ordinate with the Ministry of Education and Training, the Ministry of Finance, the Ministry of Planning and Investment, the Ministry of Construction, the State Bank of Vietnam, the People’s Committees of the provinces and centrally-run cities and relevant agencies in organizing the implementation of the project according to assigned functions.
Article 4.- This Decision takes effect after its signing.
FOR THE PRIME MINISTER
DEPUTY PRIME MINISTER
Pham Gia Khiem
...
...
...
Decision No. 773/QD-TTg of August 9, 1999, approving the technical and vocational education project
- Số hiệu: 773/QD-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 09/08/1999
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phạm Gia Khiêm
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/08/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
