Quyết định số 739-TTg ngày 06 tháng 09 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên - Huế thời kỳ 1996-2010. Đây là văn bản chiến lược quan trọng, định hình lộ trình phát triển toàn diện của tỉnh Thừa Thiên - Huế nhằm khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế so sánh, đưa tỉnh trở thành một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế lớn của khu vực miền Trung và cả nước.
- Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
- Định hướng phát triển: Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên - Huế phải gắn liền với sự phát triển chung của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và vùng Bắc Trung Bộ. Quá trình phát triển cần bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn và tôn tạo các di sản văn hóa cố đô, đồng thời củng cố vững chắc an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Tập trung nâng cấp hạ tầng đô thị, đặc biệt là thành phố Huế, nhằm tạo động lực phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Mục tiêu tăng trưởng kinh tế: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 12% - 16% trong thời kỳ 1996-2000 và đạt từ 13% - 15% trong thời kỳ 2001-2010.
- Chỉ tiêu thu nhập và ngân sách: Phấn đấu đưa GDP bình quân đầu người đạt 500 - 600 USD vào năm 2000 và đạt 1.700 - 1.800 USD vào năm 2010. Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP đạt khoảng 22% - 23% vào năm 2000 và tăng lên 25,5% - 32% vào năm 2010. Tỷ lệ tích lũy đầu tư từ GDP đạt khoảng 9,5% - 10,5% giai đoạn 1996-2000 và tăng lên 17% - 19% giai đoạn 2001-2010.
- Chỉ tiêu xuất khẩu: Giá trị xuất khẩu phấn đấu đạt khoảng 50 - 70 triệu USD vào năm 2000 và đạt từ 300 - 500 triệu USD vào năm 2010.
- Chỉ tiêu dân số, lao động và giáo dục: Giảm tỷ lệ tăng dân số xuống còn 1,9% vào năm 2000 và còn 1,5% vào năm 2010; giải quyết việc làm mới cho khoảng 40 - 50 nghìn người mỗi năm. Về giáo dục, hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập tiểu học cho toàn dân vào năm 2000, phổ cập trung học cơ sở cho thanh niên đô thị và hướng tới phổ cập trung học phổ thông cho thanh niên toàn tỉnh sau năm 2000.
- Nhiệm vụ phát triển các ngành kinh tế trọng điểm
- Phát triển công nghiệp: Định hướng công nghiệp mạnh về xuất khẩu và sản xuất hàng tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu. Từng bước xây dựng và hoàn thiện các khu công nghiệp tập trung như Phú Bài, Chân Mây, Phong Thu, Tứ Hạ và các cụm công nghiệp ven thành phố Huế. Ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất vật liệu xây dựng tận dụng nguyên liệu địa phương; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp phục vụ du lịch; và các ngành kỹ nghệ cao như lắp ráp điện tử, ô tô, công nghệ sinh học.
- Phát triển du lịch - dịch vụ: Xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Tập trung bảo tồn, tôn tạo quần thể di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cố đô Huế. Phát triển các cụm du lịch kết hợp nghỉ dưỡng biển và vùng núi như Lăng Cô, Cảnh Dương, Bạch Mã, Tân Mỹ, Thuận An, làng văn hóa A Lưới. Nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo dựng môi trường du lịch văn minh, lịch sự để thu hút du khách trong và ngoài nước.
- Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp: Phấn đấu đạt sản lượng lương thực quy thóc 20 vạn tấn vào năm 2000 và đạt 25 - 26 vạn tấn vào năm 2010. Phát triển các vùng chuyên canh cây công nghiệp và cây ăn quả tập trung, bao gồm: vùng nguyên liệu mía từ 10.000 - 15.000 ha phục vụ công nghiệp đường; vùng cao su từ 10.000 - 15.000 ha liên kết chế biến với Quảng Bình, Quảng Trị; mở rộng diện tích cà phê, quế tại các huyện miền núi; phát triển các loại cây đặc sản như thanh trà, hồng, quýt. Đẩy mạnh khoanh nuôi, bảo vệ và trồng rừng phủ xanh đất trống đồi trọc. Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản và đánh bắt hải sản xa bờ.
- Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội
- Hạ tầng giao thông và đô thị: Cải tạo, nâng cấp hệ thống giao thông đô thị và nông thôn, chú trọng các công trình chống ngập lụt cho thành phố Huế. Tập trung đầu tư các công trình trọng điểm: Sân bay Phú Bài, cảng Chân Mây, tuyến đường nối đường 68 và vùng gò đồi với Quốc lộ 1A, Quốc lộ 49 nối liền với Lào, đường vành đai thành phố Huế, hệ thống giao thông liên huyện, liên xã; phối hợp xây dựng tuyến xa lộ Bắc - Nam và đường hầm Hải Vân.
- Hạ tầng điện, nước và môi trường: Hoàn thành sớm mục tiêu đưa điện lưới quốc gia về 100% xã, phường. Triển khai các dự án cấp, thoát nước cho đô thị và khu công nghiệp, giải quyết nước sạch nông thôn, xử lý chất thải rắn và chống ô nhiễm nguồn nước.
- Thủy lợi và phòng chống thiên tai: Thực hiện các dự án trị thủy trên sông Hương và sông Bồ như công trình Tả Trạch, Khe Lu, Cổ Bi, Thảo Long. Nâng cấp, xây dựng hệ thống đê ngăn mặn ven đầm phá và triển khai các biện pháp chống xâm thực, bảo vệ sự ổn định của các cửa biển Thuận An, Tư Hiền.
- Phát triển y tế, giáo dục và văn hóa: Xây dựng Thừa Thiên - Huế thành trung tâm đại học đa ngành của khu vực và trung tâm y tế chuyên sâu của miền Trung. Nâng cấp hệ thống thiết chế văn hóa như bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa; bảo tồn các loại hình nghệ thuật truyền thống và đào tạo nghệ nhân. Đặc biệt, thực hiện kế hoạch định cư an toàn cho tuyệt đại bộ phận dân vạn đò trên sông Hương và dọc hệ thống đầm phá.
- Các giải pháp thực hiện quy hoạch và tổ chức thi hành
- Huy động nguồn lực và cơ chế chính sách: Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế cần vận dụng sáng tạo các biện pháp đồng bộ để thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Nghiên cứu xây dựng các quy hoạch chi tiết, chương trình phát triển kinh tế - xã hội trung và ngắn hạn để cụ thể hóa quy hoạch tổng thể. Chủ động đề xuất Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù về đất đai, chính sách đối với đô thị loại hai, cũng như mô hình tổ chức quản lý đô thị, quản lý di sản văn hóa và công tác đối ngoại phù hợp với đặc thù của tỉnh.
- Trách nhiệm giám sát và điều chỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế chịu trách nhiệm kiểm tra, theo dõi sát sao việc thực hiện quy hoạch, thường xuyên cập nhật thông tin để điều chỉnh kịp thời, bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển chung của vùng và cả nước.
- Trách nhiệm phối hợp của các Bộ, ngành: Các Bộ, ngành Trung ương có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ tỉnh Thừa Thiên - Huế trong quá trình triển khai thực hiện quy hoạch, bảo đảm tính thống nhất giữa quy hoạch của tỉnh với quy hoạch phát triển ngành toàn quốc, quy hoạch vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và chương trình hợp tác kinh tế tiểu vùng Mê Công.
- Hiệu lực thi hành
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký (ngày 06 tháng 09 năm 1997). Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 739-TTg | Hà Nội, ngày 06 tháng 9 năm 1997 |
PHÊ DUYỆT QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH THỪA THIÊN - HUẾ THỜI KỲ 1996-2010
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Xét đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế tại Tờ trình số 1061 TH/UBND ngày 19 tháng 7 năm 1997 và đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại văn bản số 4844 BKH-VPTĐ ngày 8 tháng 8 năm 1997,
QUYẾT ĐỊNH:
I. ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN:
1. Về những định hướng:
Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên - Huế theo hướng:
- Gắn với phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, Vùng Bắc Trung bộ, để phù hợp chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
- Bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội; bảo vệ môi trường sinh thái với việc giữ gìn bảo tồn, tôn tạo các di sản văn hoá, củng cố an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội.
- Nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị đặc biệt là của thành phố Huế; khắc phục những hạn chế về giao thông, tạo ra động lực phát triển kinh tế - xã hội; phát triển các lĩnh vực văn hoá xã hội, nâng cao mức sống và trình độ dân trí, bảo đảm nguồn nhân lực cho yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
2. Về mục tiêu:
Khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng và lợi thế của tỉnh về vị trí địa lý và các nguồn tài nguyên để xây dựng tỉnh Thừa Thiên - Huế phát triển, đạt các mục tiêu về tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và đảm bảo môi trường sinh thái, tăng cường an ninh quốc phòng; đưa tỉnh trở thành một trong những trung tâm kinh tế, văn hoá, du lịch, đào tạo đại học, y tế chuyên sâu của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung với một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt thời kỳ 1996-2010 đạt 12%-16% và thời kỳ 2001-2010 đạt 13-15%.
- Phấn đấu GDP bình quân đầu người đạt 500-600 USD vào năm 2000 và đạt 1.700-1.800 USD vào năm 2010. Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP đạt khoảng 22%-23% năm 2000 và 25,5%-32% năm 2010. Tỷ lệ tích luỹ đầu tư từ GDP khoảng 9,5%-10,5% thời kỳ 1996-2000 và khoảng 17%-19% thời kỳ 2001-2010. Giá trị xuất khẩu năm 2000 đạt khoảng 50-70 triệu USD và năm 2010 đạt khoảng 300-500 triệu USD. Phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số đến năm 2000 xuống còn 1,9% và đến năm 2010 còn 1,5%; hàng năm tạo thêm việc làm cho khoảng 40-50 nghìn người trong độ tuổi lao động. Nâng cao đời sống vật chất tinh thần của dân cư, chống tái mù chữ, đến năm 2000 cơ bản phổ cập cấp 1 cho toàn dân, cấp 2 cho thanh niên thành thị và sau năm 2000 tiếp tục phấn đấu để tiến tới phổ cập cấp 3 cho thanh niên toàn tỉnh.
II. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI:
1. Về phát triển công nghiệp:
Hướng mạnh vào xuất khẩu, đồng thời chú trọng sản xuất các sản phẩm tiêu dùng thay thế hàng nhập khẩu, xây dựng và từng bước hoàn thiện các khu công nghiệp: Phú Bài, Chân Mây, Phong Thu, Tứ Hạ và các điểm công nghiệp khác, trước hết là các cụm công nghiệp ven thành phố Huế. Cần sử dụng nguyên liệu và tay nghề ở địa phương cho các ngành sản xuất vật liệu xây dựng, ưu tiên đầu tư chế biến nông, lâm, thuỷ sản, sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ cao cấp và các mặt hàng phục vụ du lịch, các ngành sản xuất kỹ nghệ cao (như lắp ráp điện tử, ôtô, các sản phẩm sinh học phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến).
2. Về du lịch - dịch vụ:
Phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Bảo tồn tôn tạo các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh của cố đô Huế, xây dựng kết hợp cụm du lịch nghỉ đường biển và vùng núi (Lăng Cô, Cảnh Dương, Bạch Mã, Tân Mỹ, Thuận An, làng văn hoá A Lưới...), gắn du lịch với các hoạt động văn hoá.
Phát triển du lịch phải đi đôi với nâng cao chất lượng phục vụ tạo môi trường du lịch văn minh lịch sự, tăng sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước.
3. Về nông, lâm, ngư nghiệp: Phấn đấu đạt sản lượng 20 vạn tấn lương thực vào năm 2000, 25-26 vạn tấn lương thực quy thóc vào năm 2010. Đẩy mạnh phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, cây thực phẩm, cây ăn quả theo hướng vùng chuyên canh tập trung, trước hết xây dựng vùng nguyên liệu mía từ 10.000-15.000 ha cho công nghiệp sản xuất đường và sản phẩm sau đường, vùng cao su 10.000-15.000 ha để phối hợp với công nghiệp chế biến ở Quảng Bình, Quảng Trị; mở rộng diện tích trồng cà phê, quế ở các huyện miền núi; xây dựng vùng cây ăn quả tập trung với các loại cây đặc sản: thanh trà, hồng, quít. Duy trì diện tích rừng khoanh nuôi và đẩy mạnh trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc. Đẩy mạnh khai thác thuỷ sản theo hướng mở rộng diện tích nuôi trồng và phát triển đánh bắt xa bờ.
4. Về phát triển cơ sở hạ tầng:
- Xây dựng mới đi đôi với nâng cấp cải tạo hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị và nông thôn. Cải tạo, và nâng cấp hệ thống giao thông và các công trình chống lũ, chống ngập lụt trong thành phố, bảo vệ môi trường sinh thái, cùng với việc hiện đại hoá hệ thống thôn tin liên lạc. Thực hiện các dự án cấp nước, thoát nước cho các đô thị, các khu công nghiệp tập trung, giải quyết nước sạch nông thôn, chống ô nhiễm nguồn nước đi đôi với việc xử lý các chất thải rắn.
Trước mắt tập trung cải tạo, nâng cấp, xây dựng các công trình: Sân bay Phú Bài, cảng Chân Mây, hệ thống giao thông nối đường 68 và các cụm kinh tế vùng gò đồi với quốc lộ 1A, quốc lộ 49 nối với nước bạn Lào, đường vành đai của thành phố Huế, hệ thống giao thông liên huyện và liên xã; góp phần xây dựng tuyến đường xa lộ Bắc - Nam và đường hầm Hải Vân. Hoàn thành sớm kế hoạch đưa điện về 100% phường, xã.
Thực hiện một số dự án về trị thuỷ sông Hương, sông Bồ như công trình Tả Trạch, Khe Lu, Cổ Bi, Thảo Long; đồng thời nâng cấp và xây dựng mới hệ thống đê ngăn mặn ven đầm phá; có biện pháp chống xâm thực, bảo vệ tính ổn định của các cửa biển Tư Hiền, Thuận An.
5. Về phát triển giáo dục, y tế, văn hoá xã hội:
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả của hệ thống giáo dục, đào tạo để đáp ứng yêu cầu về nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Hoàn chỉnh các thiết chế của một trung tâm đại học đa ngành của khu vực và hệ thống các trường dạy nghề chất lượng cao.
- Phát triển mạng lưới chăm sóc sức khoẻ khám chữa bệnh cho nhân dân, thực hiện tốt chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình.
- Xây dựng trung tâm y tế chuyên sâu của miền Trung tại Huế.
- Mở rộng và nâng cao chất lượng của hệ thống phát thanh truyền hình, các hoạt động văn hoá thể dục thể thao. Vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng nếp sống văn minh, bài trừ các tệ nạn xã hội. Nâng cấp hệ thống bảo tàng, thư viện nhà trưng bày, nhà văn hoá và các thiết chế văn hoá khác. Đào tạo, bồi dưỡng lực lượng nghệ nhân và củng cố tổ chức các loại hình nghệ thuật truyền thống,.
- Có kế hoạch định cư tuyệt đại bộ phận dân vạn đò ở sông Hương và dọc đầm phá.
Để đảm bảo việc thực hiện quy hoạch, Uỷ ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế cần thực hiện và vận dụng sáng tạo các biện pháp đồng bộ về cơ chế, chính sách nhằm huy động các nguồn lực trong và ngoài nước. Sau khi quy hoạch tổng thể được phê duyệt, cần nghiên cứu lập và triển khai các quy hoạch chi tiết, các chương trình phát triển kinh tế xã hội, các dự án đầu tư trên cơ sở quy hoạch tổng thể này và từng bước đưa dần vào kế hoạch trung hạn, ngắn hạn để thực hiện.
Uỷ ban nhân dân tỉnh chủ động nghiên cứu, thực thi và đề xuất với Chính phủ ban hành các cơ chế chính sách phù hợp, có hiệu quả nhằm huy động được các nguồn lực thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã đề ra. Là một tỉnh có thành phố cố đô, có những đặc điểm riêng, tỉnh cần vận dụng đúng đắn các chính sách về đất đai, chính sách đối với thành phố loại hai. Tỉnh Thừa Thiên - Huế và thành phố Huế cần nghiên cứu đề xuất với Trung ương mô hình tổ chức và quản lý phù hợp, đặc biệt là các lĩnh vực quản lý đô thị, quản lý di sản văn hoá, công tác đối ngoại.
|
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
Decision No. 739-TTg of September 06, 1997 ratifying the overall plan for socio-economic development in Thua Thien-Hue province in the 1996-2010 period
- Số hiệu: 739-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 06/09/1997
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 21/09/1997
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
