Quyết định số 42/2008/QĐ-BCT phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 là văn bản chiến lược quan trọng nhằm định hình lộ trình phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy dệt may trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước.
1. Quan điểm phát triển ngành dệt mayQuy hoạch xác định rõ các quan điểm phát triển mang tính chiến lược và bền vững:
- Phát triển ngành dệt may theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa nhằm bảo đảm tốc độ tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững và hiệu quả cao.
- Kết hợp chặt chẽ giữa việc khai thác tối đa thị trường nội địa và mở rộng thị trường xuất khẩu, trong đó lấy xuất khẩu làm mục tiêu động lực cho sự phát triển của ngành.
- Phát triển thị trường thời trang Việt Nam tại các đô thị và thành phố lớn, đồng thời thực hiện chuyển dịch mạnh mẽ các cơ sở sản xuất sử dụng nhiều lao động về khu vực nông thôn.
- Đa dạng hóa hình thức sở hữu, quy mô và loại hình doanh nghiệp; huy động tối đa mọi nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển ngành.
- Tập trung đầu tư chuyên môn hóa sâu, hiện đại hóa công nghệ để tạo bước nhảy vọt về chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm.
- Phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu trong nước nhằm giảm nhập siêu và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.
- Gắn phát triển công nghiệp dệt may với bảo vệ môi trường sinh thái và xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp nông thôn.
- Chú trọng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng lẫn chất lượng để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành.
Mục tiêu tổng quát: Đưa dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày càng cao; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế vững chắc. Đảm bảo các doanh nghiệp phát triển bền vững dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại và hệ thống quản lý đạt chuẩn quốc tế về chất lượng, lao động và môi trường.
Mục tiêu cụ thể theo các mốc thời gian:
- Kim ngạch xuất khẩu: Đạt 12 tỷ USD vào năm 2010; đạt 18 tỷ USD vào năm 2015; và hướng tới đạt 25 tỷ USD vào năm 2020.
- Tốc độ tăng trưởng sản xuất bình quân: Giai đoạn 2008 - 2010 đạt từ 16% đến 18%/năm; giai đoạn 2011 - 2015 đạt từ 12% đến 14%/năm; giai đoạn 2016 - 2020 duy trì ở mức từ 12% đến 14%/năm.
- Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân: Đạt 20%/năm trong giai đoạn 2008 - 2010 và duy trì mức 15%/năm trong các giai đoạn tiếp theo đến năm 2020.
- Quy mô lao động: Thu hút 2,5 triệu lao động vào năm 2010; tăng lên 2,75 triệu người vào năm 2015; và đạt 3 triệu người vào năm 2020.
- Tỷ lệ nội địa hóa: Đạt mức 50% vào năm 2010; nâng lên 60% vào năm 2015; và đạt 70% vào năm 2020.
- Sản lượng sản phẩm chủ yếu đến năm 2015 và 2020: Bông xơ đạt 40 nghìn tấn (2015) và 60 nghìn tấn (2020); xơ, sợi tổng hợp đạt 210 nghìn tấn (2015) và 300 nghìn tấn (2020); sợi các loại đạt 500 nghìn tấn (2015) và 650 nghìn tấn (2020); vải các loại đạt 1.500 triệu m2 (2015) và 2.000 triệu m2 (2020); sản phẩm may đạt 2.850 triệu sản phẩm (2015) và 4.000 triệu sản phẩm (2020).
Quy hoạch sản phẩm chiến lược:
- Tập trung sản xuất vải và phụ liệu phục vụ may xuất khẩu, đặc biệt chú trọng khâu nhuộm và hoàn tất vải bằng công nghệ hiện đại, tạo giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường.
- Đẩy mạnh sản xuất bông, xơ, sợi tổng hợp nhằm chủ động nguồn nguyên liệu, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và tiết kiệm ngoại tệ.
- Nâng cao đẳng cấp mặt hàng may mặc, chuyển dịch phương thức sản xuất từ gia công đơn thuần sang mua đứt bán đoạn (FOB, ODM), phát triển thiết kế thời trang và xúc tiến thương mại.
Phân bổ quy hoạch theo 7 vùng lãnh thổ:
- Vùng đồng bằng sông Hồng (Khu vực I): Lấy Hà Nội làm trung tâm dịch vụ, thiết kế mẫu mốt, cung ứng nguyên phụ liệu và sản xuất sản phẩm giá trị gia tăng cao. Di dời các cơ sở sản xuất về các khu công nghiệp tập trung tại Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Ninh Bình. Đầu tư nhà máy sản xuất xơ Polyester công suất 160.000 tấn/năm tại Hải Phòng.
- Vùng Đông Nam Bộ (Khu vực II): Thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò trung tâm thương mại, thiết kế thời trang và dịch vụ công nghệ. Di dời các cơ sở nhuộm, hoàn tất gây ô nhiễm về Long An và các tỉnh lân cận. Hạn chế đầu tư mới sử dụng nhiều lao động tại khu vực này để giảm áp lực nguồn nhân lực.
- Vùng duyên hải Trung Bộ (Khu vực III): Lấy Đà Nẵng làm trung tâm để hình thành cụm công nghiệp may xuất khẩu và các khu công nghiệp dệt nhuộm hoàn tất tại Đà Nẵng, Quảng Trị.
- Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Khu vực IV): Lấy Cần Thơ làm trung tâm phát triển cụm công nghiệp may xuất khẩu và khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Trà Vinh.
- Vùng Đông Bắc và Tây Bắc Bộ (Khu vực V): Bố trí khu công nghiệp dệt tại Phú Thọ, các nhà máy may tại các tỉnh thành. Phát triển vùng nguyên liệu bông, tơ tằm tại Sơn La, Điện Biên.
- Vùng Bắc Trung Bộ (Khu vực VI): Bố trí các doanh nghiệp dọc Quốc lộ 1 tại Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên Huế. Hình thành các khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị trong giai đoạn 2012 - 2015.
- Vùng Tây Nguyên (Khu vực VII): Phát triển vùng nguyên liệu dâu tằm, bông gắn với chế biến sâu; phát triển các cơ sở may làm vệ tinh cho khu vực miền Trung và miền Nam.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, quy hoạch xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ trên nhiều lĩnh vực:
- Chính sách đầu tư: Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư; thu hút FDI đón đầu làn sóng dịch chuyển dệt may toàn cầu. Tập trung vốn vào sản xuất vải dệt thoi, nguyên phụ liệu, xơ nhân tạo và sợi chất lượng cao. Xây dựng các khu công nghiệp chuyên ngành dệt may tập trung để xử lý nước thải và di dời các cơ sở ô nhiễm ra khỏi đô thị.
- Giải pháp cung ứng nguyên phụ liệu: Thành lập các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu quy mô lớn tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Thu hút đầu tư vào ngành hóa dầu để sản xuất xơ, sợi, hóa chất, thuốc nhuộm trong nước nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa.
- Chính sách thị trường: Cơ quan nhà nước hỗ trợ đàm phán mở rộng thị trường quốc tế, cải cách thủ tục hành chính (thuế, hải quan theo cơ chế một cửa), tăng cường chống buôn lậu và tư vấn pháp luật thương mại quốc tế. Doanh nghiệp chủ động xây dựng mạng lưới bán lẻ nội địa, nâng cao năng lực tiếp thị, xây dựng thương hiệu gắn với hình ảnh "chất lượng - trách nhiệm - thân thiện môi trường".
- Phát triển nguồn nhân lực: Xây dựng Chương trình đào tạo toàn diện từ cán bộ quản lý, nhà thiết kế thời trang đến công nhân kỹ thuật lành nghề. Thành lập Trường Đại học Dệt may và Thời trang. Hiệp hội Dệt may (VITAS) và Tập đoàn Dệt may (Vinatex) làm đầu mối liên kết đào tạo trong và ngoài nước.
- Khoa học và công nghệ: Ứng dụng công nghệ mới, nguyên liệu mới, phần mềm thiết kế và quản lý hiện đại. Đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất nguyên liệu thay thế nhập khẩu. Chuyển đổi các Viện nghiên cứu chuyên ngành sang mô hình tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Bảo vệ môi trường: Bắt buộc xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn tại các khu công nghiệp dệt may. Áp dụng chương trình sản xuất sạch hơn, hướng tới đạt các tiêu chuẩn quốc tế như SA 8000, ISO 14000. Thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ tiết kiệm năng lượng và thân thiện môi trường.
- Giải pháp tài chính: Đa dạng hóa nguồn vốn thông qua thị trường chứng khoán (phát hành cổ phiếu, trái phiếu trong và ngoài nước). Nhà nước hỗ trợ ngân sách cho nghiên cứu, đào tạo. Các dự án xử lý môi trường được ưu tiên tiếp cận vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA và Quỹ bảo vệ môi trường.
Quy hoạch phân công trách nhiệm rõ ràng cho các cơ quan, tổ chức:
- Bộ Công thương: Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo phát triển ngành theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt.
- Các Bộ ngành liên quan (Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển): Phối hợp hỗ trợ doanh nghiệp và địa phương tháo gỡ khó khăn về vốn, công nghệ, nguyên liệu và đất đai.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Cụ thể hóa quy hoạch dệt may trên địa bàn phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; giám sát việc thực hiện quy hoạch.
- Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS): Tuyên truyền, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện quy hoạch; đề xuất điều chỉnh cơ chế, chính sách phù hợp với thực tế.
- Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex): Giữ vai trò nòng cốt, chủ đạo trong việc đầu tư các dự án quy mô lớn; phối hợp đề xuất các giải pháp phát triển ngành.
Hiệu lực thi hành: Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng các Vụ chức năng thuộc Bộ Công thương, Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc Vinatex, cùng Hiệp hội Dệt may Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ CÔNG THƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 42/2008/QĐ-BCT | Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2008 |
BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG THƯƠNG
Căn cứ Nghị định số 189/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương;
Căn cứ Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP;
Căn cứ Quyết định số 36/2008/QĐ-TTg ngày 10 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020;
Xét đề nghị của Tập đoàn Dệt may Việt Nam tại Tờ trình số 1115/TĐDM-TT/KHĐT ngày 22 tháng 10 năm 2008 về việc đề nghị phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020”;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nhẹ,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp Dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 với các nội dung chủ yếu sau đây:
a. Phát triển ngành Dệt may theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa, đảm bảo tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững, hiệu quả;
b. Phát triển tối đa thị trường nội địa đồng thời với việc mở rộng thị trường xuất khẩu; lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành;
c. Phát triển thị trường thời trang Việt Nam tại các đô thị, thành phố lớn. Chuyển dịch mạnh các cơ sở Dệt may sử dụng nhiều lao động về các vùng nông thôn;
d. Đa dạng hóa sở hữu, đa dạng hóa quy mô và loại hình doanh nghiệp; huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển ngành Dệt may Việt Nam;
đ. Phát triển Dệt may theo hướng đầu tư chuyên môn hóa, hiện đại, nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất và lượng của sản phẩm;
e. Phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu dệt may, giảm nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng của ngành;
g. Phát triển ngành Dệt may gắn với bảo vệ môi trường và xu thế dịch chuyển lao động nông nghiệp nông thôn;
h. Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng cho sự phát triển bền vững của ngành Dệt may Việt Nam.
a. Mục tiêu tổng quát
- Phát triển ngành Dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới;
- Đảm bảo cho các doanh nghiệp Dệt may phát triển bền vững, hiệu quả trên cơ sở công nghệ hiện đại, hệ thống quản lý chất lượng, quản lý lao động, quản lý môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế.
b. Mục tiêu cụ thể
| Chỉ tiêu | ĐVT | Năm 2010 | Năm 2015 | Năm 2020 |
| 1. Kim ngạch XK | Tr.USD | 12.000 | 18.000 | 25.000 |
| 2. Sử dụng lao động | 1000 ng | 2.500 | 2.750 | 3.000 |
| 3. Sản phẩm chủ yếu |
|
|
|
|
| - Bông xơ | 1000 tấn | 20 | 40 | 60 |
| - Xơ, sợi tổng hợp | 1000 tấn | 120 | 210 | 300 |
| - Sợi các loại | 1000 tấn | 350 | 500 | 650 |
| - Vải các loại | Tr.m2 | 1.000 | 1.500 | 2.000 |
| - Sản phẩm may | Tr.SP | 1.800 | 2.850 | 4.000 |
| 4. Tỷ lệ nội địa hóa | % | 50 | 60 | 70 |
- Giai đoạn 2008 đến 2010, tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 16% đến 18%, tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 20% và kim ngạch xuất khẩu đạt 12,0 tỷ USD vào năm 2010;
- Giai đoạn 2011 đến 2015, tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 12% đến 14%, tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 15% và kim ngạch xuất khẩu đạt 18 tỷ USD vào năm 2015;
- Giai đoạn 2016 đến 2020, tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 12% đến 14%, tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 15% và kim ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ USD vào năm 2020.
3. Quy hoạch phát triển sản phẩm và bố trí quy hoạch
a. Quy hoạch sản phẩm chiến lược
- Tập trung sản xuất vải và phụ liệu phục vụ may xuất khẩu. Trong sản xuất vải, khâu nhuộm và hoàn tất vải đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng vải đáp ứng yêu cầu của thị trường và của khách hàng. Đầu tư sản xuất vải phải lựa chọn công nghệ tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giảm chi phí nguyên liệu và thân thiện với môi trường.
- Đẩy mạnh đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất bông, xơ, sợi tổng hợp và phụ liệu, để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và giảm dần nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ;
- Tăng cường đầu tư phát triển ngành may xuất khẩu để tận dụng cơ hội của thị trường. Các doanh nghiệp may cần đa dạng hóa và nâng cao đẳng cấp mặt hàng, tích cực thay đổi phương thức sản xuất hàng xuất khẩu từ nhận nguyên liệu giao thành phẩm sang mua đứt bán đoạn, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp may như các hoạt động thiết kế mẫu mốt, cung ứng nguyên phụ liệu, xúc tiến thương mại.
b. Quy hoạch theo vùng, lãnh thổ
Quy hoạch dệt may theo vùng lãnh thổ được phân bố ở các khu vực với những định hướng chính:
- Khu vực I: Vùng đồng bằng sông Hồng
Quy hoạch theo định hướng lấy Hà Nội là trung tâm làm dịch vụ, cung cấp nguyên phụ liệu, công nghệ, mẫu mốt, các cơ sở may sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Các cơ sở sản xuất di dời về các Khu công nghiệp ở các tỉnh như: Hòa Xá (Nam Định), Nguyễn Đức Cảnh (Thái Bình), Phố Nối B (Hưng Yên), Đồng Văn (Hà Nam), Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Ninh Bình. Tại khu vực này sẽ hình thành một cụm công nghiệp may xuất khẩu và ba khu công nghiệp dệt nhuộm hoàn tất tập trung. Đầu tư một nhà máy sản xuất xơ Polyester công suất 160.000 tấn/năm tại Khu công nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng).
- Khu vực II: Vùng Đông Nam Bộ
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại, thiết kế mẫu mốt, dịch vụ công nghệ dệt may và các nhà máy may các sản phẩm thời trang, có giá trị gia tăng cao. Di dời các cơ sở nhuộm, hoàn tất tại thành phố Hồ Chí Minh về Khu công nghiệp Long An và các tỉnh lân cận. Đây là khu vực đã phát triển nóng về dệt may trong những năm qua, hiện đang gặp rất nhiều khó khăn về lao động nên không khuyến khích đầu tư mới vào khu vực này để tránh sức ép về lao động.
- Khu vực III: Vùng duyên hải Trung Bộ
Lấy Thành phố Đà Nẵng làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệp may xuất khẩu và một số Khu công nghiệp dệt nhuộm - hoàn tất tại Hòa Khánh (Đà Nẵng), Quảng Trị
- Khu vực IV: Đồng bằng sông Cửu Long
Lấy Thành phố Cần Thơ làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệp may xuất khẩu và một khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Trà Vinh.
- Khu vực V: Vùng Đông Bắc và Tây Bắc Bộ
Quy hoạch theo hướng bố trí một Khu Công nghiệp dệt tại Phú Thọ, các nhà máy may bố trí ở các tỉnh. Phát triển vùng trồng bông, nguyên liệu tơ tằm ở Sơn La, Điện Biên
- Khu vực IV: Vùng Bắc Trung Bộ
Quy hoạch theo hướng bố trí các doanh nghiệp dệt may theo trục quốc lộ 1 với một số cụm, điểm công nghiệp tại Bỉm Sơn (Thanh Hóa), Vinh (Nghệ An), Huế (Thừa Thiên Huế). Hình thành ba khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Diễn Châu (Nghệ An), Hà Tĩnh, Quảng Trị trong giai đoạn từ 2012 đến 2015
- Khu vực VII: Vùng Tây Nguyên
Định hướng đẩy mạnh chuyên môn hóa các cây nguyên liệu dệt như dâu tằm, bông… gắn liền với chế biến tạo ra các sản phẩm cho thị trường xuất khẩu và nội địa. Đồng thời kết hợp phát triển các cơ sở may phục vụ nội địa hoặc làm vệ tinh cho ngành may của khu vực II và khu vực III.
4. Hệ thống các giải pháp và chính sách thực hiện quy hoạch
a. Các chính sách và giải pháp về đầu tư
Đầu tư phát triển ngành dệt may gắn liền với hợp tác quốc tế, tranh thủ tối đa làn sóng dịch chuyển dệt may từ các nước phát triển. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nước tham gia đầu tư.
- Tập trung đầu tư để sản xuất vải và nguyên phụ liệu phục vụ cho may xuất khẩu. Xây dựng chương trình sản xuất vải dệt thoi để phục vụ cho sản xuất sản phẩm may xuất khẩu.
- Xây dựng chương trình phát triển cây bông, trong đó ưu tiên xây dựng các vùng trồng bông có tưới tại các tỉnh có tiềm năng;
- Thông qua liên doanh liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài nước xây dựng các dự án đầu tư sản xuất xơ nhân tạo, các loại sợi có chất lượng cao và có các tính năng mới phù hợp với xu thế của thị trường;
- Đẩy mạnh đầu tư cho ngành may để tăng khả năng xuất khẩu và tạo điều kiện thúc đẩy việc sản xuất vải và phụ liệu thay thế dần hàng nhập khẩu. Dịch chuyển các doanh nghiệp may từ các trung tâm đô thị lớn về các địa phương để giảm sức ép về lao động và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động tại các địa phương;
- Xây dựng các khu công nghiệp chuyên ngành Dệt may tại các vùng trọng điểm để tập trung xử lý môi trường cho các dự án đầu tư mới vào ngành dệt nhuộm và di dời các doanh nghiệp dệt nhuộm gây ô nhiễm ra khỏi các trung tâm đô thị lớn.
b. Các giải pháp về cung ứng nguyên phụ liệu
- Xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp trong ngành;
- Thu hút đầu tư nước ngoài và huy động các nguồn vốn trong nước đầu tư sản xuất các sản phẩm hóa dầu (xơ, sợi, hóa chất, thuốc nhuộm …) phục vụ cho dệt may để chủ động về nguyên liệu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong sản phẩm dệt may.
c. Các chính sách và giải pháp thị trường
Mở rộng thị trường xuất khẩu là khâu đột phá trong chiến lược phát triển xuất khẩu hàng dệt may, là một trong những nhân tố quyết định sự tăng trưởng của ngành dệt may Việt Nam. Để mở rộng thị trường Nhà nước và các doanh nghiệp cần triển khai các giải pháp sau:
Các cơ quan quản lý Nhà nước:
- Tập trung mọi khả năng và cơ hội giúp các doanh nghiệp đàm phán mở rộng thị trường dệt may trên thị trường quốc tế;
- Đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập khẩu theo hướng thực hiện cơ chế một dấu, một cửa, đơn giản hóa các thủ tục. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, chống buôn lậu, trốn thuế;
- Tăng cường công tác tư vấn pháp luật thương mại quốc tế giúp các doanh nghiệp xuất khẩu vượt qua các rào cản của các nước nhập khẩu.
Các doanh nghiệp trong ngành Dệt may:
Tổ chức và mở rộng mạng lưới bán lẻ trong nước, đổi mới phương thức tiếp thị xuất khẩu, quan tâm đến việc xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm, xây dựng hình ảnh của ngành dệt may Việt Nam “chất lượng - trách nhiệm - thân thiện môi trường” trên thị trường quốc tế.
d. Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt may Việt Nam:
- Tổ chức việc đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ pháp chế, cán bộ kỹ thuật nhất là các nhà thiết kế thời trang, cán bộ làm công tác kế hoạch, tiếp thị và đào tạo công nhân lành nghề;
- Kết hợp đào tạo dài hạn với đào tạo ngắn hạn, kết hợp giữa đào tạo chính quy với đào tạo tại chỗ, kết hợp giữa đào tạo trong nước với việc cử cán bộ ra nước ngoài để đào tạo;
- Củng cố và mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt may, xây dựng Trường Đại học Dệt may và Thời trang để tạo cơ sở vật chất cho việc triển khai các lớp đào tạo.
Hiệp hội Dệt may Việt Nam và Tập đoàn Dệt may Việt Nam là đầu mối để phối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước triển khai Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành.
đ. Các giải pháp về khoa học và công nghệ
- Nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, các nguyên liệu mới để tạo ra các sản phẩm dệt có tính năng khác biệt, triển khai các chương trình sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, áp dụng các phần mềm trong thiết kế, quản lý sản xuất và chất lượng sản phẩm Dệt may;
- Đẩy mạnh công tác nghiên cứu sản xuất nguyên vật liệu để thay thế nguyên liệu nhập khẩu, đầu tư thỏa đáng cho công tác nghiên cứu thiết kế mẫu sản phẩm và kiểm tra chất lượng sản phẩm; khắc phục các rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu;
- Tổ chức lại các Viện nghiên cứu chuyên ngành dệt may theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Nâng cao năng lực tư vấn, nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ, khả năng thiết kế và sáng tác mẫu của các Viện nghiên cứu.
e. Các giải pháp bảo vệ môi trường
- Tập trung xử lý các nguồn ô nhiễm nước tại các công ty dệt nhuộm. Tại các Khu công nghiệp Dệt may phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, đạt tiêu chuẩn môi trường theo quy định của Nhà nước;
- Đẩy mạnh triển khai chương trình sản xuất sạch hơn tại các doanh nghiệp trong ngành Dệt may, áp dụng tiêu chuẩn môi trường, tiêu chuẩn sản phẩm, tạo môi trường lao động tốt với người lao động theo tiêu chuẩn SA 8000, ISO 14000;
- Xây dựng và thực hiện lộ trình đổi mới công nghệ trong ngành dệt may theo hướng tiết kiệm nguyên liệu và thân thiện với môi trường;
- Tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học công nghệ về môi trường để đáp ứng các yêu cầu về môi trường và rào cản kỹ thuật trong hội nhập kinh tế quốc tế.
g. Các giải pháp về tài chính
- Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước góp vốn tham gia đầu tư. Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán để tạo kênh huy động vốn (thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu và trái phiếu quốc tế);
- Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo và vốn đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho các Viện nghiên cứu và các cơ sở đào tạo cho ngành Dệt may;
Các dự án đầu tư xử lý môi trường của các doanh nghiệp trong ngành Dệt may được vay vốn tín dụng của nhà nước, vốn ODA và vốn của quỹ môi trường.
1. Bộ Công thương có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo phát triển ngành theo quy hoạch đã được phê duyệt.
2. Các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Khoa học và Công nghệ; Tài nguyên và Môi trường; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Ngân hàng phát triển Việt Nam theo chức năng của mình phối hợp với Bộ Công thương để hỗ trợ các doanh nghiệp, các địa phương trong việc triển khai Quy hoạch đã được phê duyệt.
3. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cụ thể hóa quy hoạch phát triển ngành Dệt may trên địa bàn tỉnh, thành phố. Tham gia với các Bộ, ngành kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện quy hoạch được duyệt để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
4. Hiệp hội Dệt may Việt Nam phối hợp với Bộ Công thương tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn những nội dung chính của quy hoạch cho cộng đồng các doanh nghiệp ngành Dệt may cả nước để có định hướng và kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh phù hợp với Quy hoạch. Nghiên cứu, đề xuất với các cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh các chính sách, cơ chế để phát triển ngành công nghiệp Dệt may theo Quy hoạch.
5. Tập đoàn Dệt may Việt Nam là doanh nghiệp chủ đạo của ngành có trách nhiệm phát triển đầu tư những dự án Dệt may có quy mô lớn. Phối hợp với Hiệp hội Dệt may Việt Nam nghiên cứu, đề xuất với các cơ quan quản lý nhà nước các chính sách, cơ chế để phát triển ngành công nghiệp Dệt may theo Quy hoạch được duyệt.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 4. Chánh Văn phòng Bộ; Vụ trưởng các Vụ: Công nghiệp nhẹ, Kế hoạch, Tài chính, Khoa học và Công nghệ, Xuất nhập khẩu, Thị trường trong nước; Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam; Hiệp hội Dệt may Việt Nam chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
|
Nơi nhận: | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Decision No. 36/2008/QD-TTg of March 10, 2008, approving the strategy on development of vietnams textile and garment industry till 2015 and orientations to 2020.
- 2Decree No. 189/2007/ND-CP of December 27, 2007, defining the functions, tasks, powers and organizational structure of the Ministry of Industry and Trade.
Decision No. 42/2008/QD-BCT of November 19, 2008, approving the master plan on development of Vietnams textile and garment industry till 2015 and orientations to 2020.
- Số hiệu: 42/2008/QD-BCT
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 19/11/2008
- Nơi ban hành: Bộ Công thương
- Người ký: Bùi Xuân Khu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 18/12/2008
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
