Quyết định số 183/TTg ban hành ngày 16 tháng 04 năm 1994 bởi Phó Thủ tướng Phan Văn Khải, quy định về việc thành lập Hội đồng quốc gia xét chọn đơn vị trúng thầu các dự án đầu tư lớn (gọi tắt là Hội đồng xét thầu quốc gia). Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thiết lập cơ chế giám sát, thẩm định chặt chẽ đối với các dự án đầu tư quy mô lớn sử dụng nguồn vốn nhà nước, đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả kinh tế và hạn chế thất thoát trong hoạt động đấu thầu.
Dưới đây là nội dung tóm tắt chi tiết và phân tích chuyên sâu các điều khoản quy định tại Quyết định số 183/TTg:
- Phạm vi áp dụng và Thẩm quyền của Hội đồng xét thầu quốc gia (Điều 1)
- Hội đồng xét thầu quốc gia được thành lập với vai trò là cơ quan tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ trong việc thẩm định kết quả đấu thầu các dự án đầu tư lớn.
- Đối tượng thẩm định bao gồm các dự án sử dụng vốn của Nhà nước có tổng mức vốn đầu tư từ 100 tỷ đồng Việt Nam trở lên (tương đương khoảng 10 triệu đô la Mỹ tại thời điểm ban hành), hoặc các dự án có giá trị thấp hơn nhưng có quyết định yêu cầu riêng từ Thủ tướng Chính phủ.
- Nguồn vốn nhà nước được xác định trong phạm vi điều chỉnh bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn vay, vốn viện trợ nước ngoài và vốn của Nhà nước tại các doanh nghiệp.
- Uỷ ban kế hoạch Nhà nước chịu trách nhiệm quy định cụ thể danh mục các dự án (bao gồm cả dự án của doanh nghiệp có vốn nhà nước) bắt buộc phải qua thủ tục đấu thầu và trình lên Hội đồng xét thầu quốc gia xem xét.
- Nhiệm vụ và Quyền hạn của Hội đồng xét thầu quốc gia (Điều 2)
- Nhiệm vụ thẩm định và kiến nghị: Hội đồng có trách nhiệm tổ chức thẩm tra, đánh giá kết quả đấu thầu các dự án do các Bộ, địa phương hoặc doanh nghiệp thực hiện, từ đó đưa ra kiến nghị trình Thủ tướng Chính phủ quyết định lựa chọn đơn vị trúng thầu cuối cùng. Thời hạn thực hiện thẩm định tối đa là 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ về kết quả đấu thầu.
- Quyền hạn thu thập thông tin và phản biện: Hội đồng được quyền yêu cầu các Hội đồng đấu thầu cấp Bộ, cấp địa phương, doanh nghiệp hoặc các chủ dự án cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu liên quan đến quá trình xét thầu. Đồng thời, Hội đồng có quyền mời các chuyên gia có trình độ chuyên môn sâu và giàu kinh nghiệm tham gia thực hiện chức năng phản biện độc lập khi cần thiết để đảm bảo tính khách quan.
- Cơ cấu tổ chức và Thành phần nhân sự của Hội đồng (Điều 3)
- Chủ tịch Hội đồng: Do Giáo sư Đỗ Quốc Sam - Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước đảm nhiệm. Trong trường hợp vắng mặt, Chủ tịch Hội đồng có quyền uỷ nhiệm cho một Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước chủ trì phiên họp.
- Các Uỷ viên thường trực: Gồm đại diện lãnh đạo cấp Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng của các cơ quan: Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Thương mại, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ và Tổ trưởng tổ Thư ký Hội đồng.
- Các uỷ viên lâm thời (mời theo dự án): Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm kỹ thuật và quy mô của từng dự án cụ thể, Chủ tịch Hội đồng sẽ quyết định mời Thủ trưởng và các chuyên gia từ các cơ quan chuyên ngành liên quan tham gia.
- Bộ phận giúp việc: Hội đồng được hỗ trợ bởi một Tổ thư ký giúp việc. Nhân sự của Tổ thư ký do các cơ quan thành viên thường trực cử cán bộ tham gia theo yêu cầu. Tổ trưởng Tổ thư ký là cán bộ thuộc Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước bổ nhiệm.
- Kinh phí hoạt động của Hội đồng xét thầu quốc gia (Điều 4)
- Toàn bộ kinh phí hoạt động phục vụ cho công tác xét thầu của Hội đồng xét thầu quốc gia được hạch toán trực tiếp vào chi phí quản lý dự án.
- Việc quản lý và chi tiêu nguồn kinh phí này phải tuân thủ theo các hướng dẫn và quy định thống nhất do Bộ Tài chính ban hành.
- Phân cấp thẩm quyền đối với các dự án quy mô nhỏ hơn (Điều 5)
- Đối với các dự án đầu tư không nằm trong phạm vi điều chỉnh của Điều 1 (dưới 100 tỷ đồng và không có chỉ đạo riêng của Thủ tướng), thẩm quyền xét thầu được phân cấp hoàn toàn cho Hội đồng đấu thầu cấp Bộ, địa phương hoặc doanh nghiệp.
- Các Hội đồng đấu thầu cấp dưới này tự thực hiện nhiệm vụ xét thầu và kiến nghị trực tiếp lên cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư để phê duyệt đơn vị trúng thầu.
- Hiệu lực thi hành và Trách nhiệm tổ chức thực hiện (Điều 6)
- Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (ngày 16 tháng 04 năm 1994).
- Các đối tượng chịu trách nhiệm thi hành quyết định bao gồm: Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Giám đốc các doanh nghiệp có dự án thuộc phạm vi điều chỉnh tại Điều 1.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 183-TTg | Hà Nội , ngày 16 tháng 4 năm 1994 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC THÀNH LẬP HỘI ĐỒNG QUỐC GIA XÉT CHỌN ĐƠN VỊ TRÚNG THẦU CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ LỚN
(GỌI TẮT LÀ HỘI ĐẤU THẦU QUỐC GIA)
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ luật tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ điều lệ Quản lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) số 385-HĐBT ngày 7-11-1990;
Căn cứ Nghị quyết phiên họp Chính phủ ngày 5 và 6 tháng 1 năm 1994 về các vấn đề kinh tế đối ngoại;
Căn cứ Nghị định số 20-CP ngày 5-3-1994 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức;
Xét đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban kế Hoạch Nhà nước,
QUYẾT ĐỊNH :
Điều 1. Thành lập Hội đồng quốc gia xét chọn đơn vị trúng thầu các dự án đầu tư lớn (gọi tắt là Hội đồng xét thầu quốc gia) làm tư vấn cho Thủ tướng Chính phủ thẩm định kết quả đấu thầu các dự án dùng vốn của Nhà nước có vốn đầu tư từ 100 tỷ đồng Việt Nam trở lên (tương đương 10 triệu đô la Mỹ) hoặc các dự án có giá trị thấp hơn khi có quyết định riêng của Thủ tướng Chính phủ. Các dự án dùng vốn của Nhà nước bao gồm dự án dùng vốn ngân sách, vốn vay, vốn viện trợ nước ngoài và vốn của Nhà nước ở các doanh nghiệp. Uỷ ban kế hoạch Nhà nước quy định những dự án, kể cả dự án của các doanh nghiệp có vốn Nhà nước phải qua đấu thầu và trình lên Hội đồng xét thầu quốc gia.
Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng xét thầu quốc gia:
1. Tổ chức thẩm tra và đánh giá kết quả đấu thầu các dự án của các Bộ và địa phương hoặc doanh nghiệp để kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ lựa chọn đơn vị trúng thầu. Thời gian thẩm định dự án không quá 15 ngày kể từ khi nhận được đủ hồ sơ về kết quả đấu thầu.
2. Được quyền yêu cầu Hội đồng đấu thầu cấp Bộ, địa phương hoặc doanh nghiệp, các chủ dự án cung cấp đủ hồ sơ có liên quan đến việc xét thầu và được quyền mời chuyên gia có kinh nghiệm về các lĩnh vực chuyên môn sâu thực hiện chức năng phản biện trong trường hợp cần thiết.
Điều 3. Thành phần của Hội đồng xét thầu quốc gia:
Chủ tịch Hội đồng: Giáo sư Đỗ Quốc Sam, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước (trường hợp Hội đồng cần họp mà chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch nhà nước vắng mặt thì uỷ nhiệm một Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước chủ trì phiên họp)
Các Uỷ viên thường trực Hội đồng: Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng của các Bộ tài chính, xây dựng, khoa học, Công nghệ và Môi trường, Thương mại, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ và Tổ trưởng tổ Thư ký Hội đồng.
Các uỷ viên khác (được mời tham gia theo từng dự án): Thủ trưởng và chuyên gia các cơ quan có liên quan tuỳ thuộc vào tính chất, đặc điểm của từng dự án, do chủ tịch Hội đồng mời.
Hội đồng có Tổ thư ký giúp việc, các cơ quan là thành viên thường trực của Hội đồng cử cán bộ tham gia Tổ thư ký theo yêu cầu của Hội đồng; tổ trưởng Tổ thư ký thuộc Uỷ ban kế hoạch Nhà nước do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước bổ nhiệm.
Điều 4. Kinh phí hoạt động của Hội đồng xét thầu quốc gia được tính trong chi phí quản lý dự án theo quy định thống nhất của Bộ Tài chính.
Điều 5. Đối với những dự án đầu tư không thuộc phạm vi quy định ở Điều 1, Hội đồng đấu thầu cấp Bộ, địa phương hoặc doanh nghiệp thực hiện cả nhiệm vụ xét thầu để kiến nghị cấp quyết định đầu tư chọn lựa đơn vị trúng thầu.
Điều 6. Bộ trưởng các Bộ và cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc các doanh nghiệp nói ở điều 1 có trách nhiệm thi hành quyết định này. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
|
| Phan Văn Khải (Đã Ký) |
Decision No. 183/TTg of Apirl 16, 1994, on the establishment of national council for consideration and selection of bid winner for sizable investment projects
- Số hiệu: 183/TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 16/04/1994
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/04/1994
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
