TÓM TẮT CHI TIẾT CHIẾN LƯỢC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI CÁC ĐÔ THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc ký ban hành ngày 10 tháng 7 năm 1999, phê duyệt Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020. Đây là văn bản định hướng chiến lược quan trọng nhằm thiết lập hệ thống quản lý chất thải rắn đồng bộ, kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường và thúc đẩy phát triển bền vững trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1. Mục tiêu của Chiến lược quản lý chất thải rắn
Chiến lược vạch ra các mục tiêu cụ thể theo hai giai đoạn rõ rệt nhằm từng bước hoàn thiện công tác quản lý và xử lý chất thải:
- Mục tiêu trước mắt (đến năm 2005):
- Hoàn thành việc lập quy hoạch quản lý và xử lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong đó, ưu tiên quy hoạch các bãi chôn lấp hợp vệ sinh và thực hiện đóng cửa các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh; xây dựng các cơ sở chế biến chất thải rắn làm phân bón khi đủ điều kiện.
- Triển khai phân loại chất thải nguy hại ngay tại nguồn và bước đầu thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị.
- Đạt tỷ lệ thu gom, vận chuyển và xử lý từ 75% đến 90% tổng lượng chất thải rắn phát sinh tùy theo đặc thù từng loại đô thị và khu công nghiệp.
- Xử lý triệt để chất thải rắn y tế nguy hại tại các đô thị lớn bằng công nghệ thiêu đốt tiên tiến; áp dụng phương pháp thích hợp để xử lý chất thải rắn công nghiệp nguy hại.
- Mục tiêu lâu dài (đến năm 2020):
- Nâng tỷ lệ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp đạt từ 80% đến 95%.
- Thu gom và xử lý triệt để toàn bộ chất thải rắn y tế nguy hại tại các đô thị bằng công nghệ tiên tiến.
- Áp dụng rộng rãi các giải pháp thu hồi và tái chế chất thải rắn. Đặc biệt, ưu tiên đầu tư xây dựng 02 trung tâm xử lý chất thải rắn công nghiệp nguy hại tại hai vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam.
- Hoàn thiện toàn diện công tác quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp trên các nguyên tắc đồng bộ về hệ thống pháp luật, đầu tư phát triển, trợ giúp kỹ thuật và thanh tra kiểm soát.
2. Các nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Chiến lược
Để đạt được các mục tiêu đề ra, Chiến lược xác định hệ thống 06 nhóm giải pháp đồng bộ:
- Hoàn thiện khung pháp luật:
- Rà soát, ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm nâng cao hiệu lực của Luật Bảo vệ môi trường trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn.
- Xây dựng và ban hành cụ thể "Quy chế quản lý chất thải rắn" và "Quy chế quản lý chất thải nguy hại".
- Lập quy hoạch mạng lưới cơ sở xử lý chất thải y tế và chất thải nguy hại từ các khu công nghiệp trên phạm vi toàn quốc để tối ưu hóa nguồn lực đầu tư, tránh chồng chéo, lãng phí.
- Ban hành tiêu chuẩn thiết kế bãi chôn lấp hợp vệ sinh và tích hợp chỉ tiêu đất sử dụng cho xử lý chất thải rắn vào quy chuẩn quy hoạch đô thị.
- Nâng cao nhận thức cộng đồng và năng lực đào tạo:
- Tuyên truyền thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, lồng ghép giáo dục môi trường thông qua sinh hoạt của các tổ chức quần chúng tại cơ sở nhằm tạo phong trào thi đua xây dựng nếp sống văn minh.
- Đưa chương trình giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân từ cấp mầm non, phổ thông đến đại học, cũng như các chương trình bồi dưỡng của các tổ chức chính trị - xã hội, hội nghề nghiệp.
- Củng cố và nâng cao năng lực cho các cơ sở đào tạo chuyên gia chuyên sâu trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn.
- Đổi mới chính sách tài chính và tạo nguồn vốn:
- Bộ Xây dựng chủ trì xây dựng khung phí vệ sinh môi trường và khung giá hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn. Mức thu trước mắt phải bảo đảm đủ chi phí vận hành bộ máy, tiến tới hoàn trả một phần vốn đầu tư của Nhà nước.
- Chính quyền địa phương thực hiện thu đúng, thu đủ thuế và phí vệ sinh môi trường theo thẩm quyền phân cấp; các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng lệ phí đầy đủ.
- Áp dụng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và đất đai để khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực này.
- Ưu tiên phân bổ ngân sách nhà nước, nguồn vốn ODA và các khoản vay dài hạn lãi suất ưu đãi cho các dự án quản lý, trang thiết bị và xây dựng khu xử lý chất thải rắn.
- Khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ sản xuất sạch, giảm thiểu chất thải thông qua các ưu đãi của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Khuyến khích các nhà sản xuất nghiên cứu giảm thiểu chất thải sau tiêu dùng (giảm bao bì, thay đổi nguyên liệu đầu vào, thay đổi thói quen tiêu dùng).
- Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý:
- Củng cố các doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực dịch vụ môi trường; thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả; nghiên cứu thành lập các công ty dịch vụ công ích hoạt động theo mô hình doanh nghiệp nhà nước.
- Khuyến khích mạnh mẽ các thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia đầu tư và cung cấp dịch vụ quản lý chất thải rắn.
- Hiện đại hóa công nghệ và sản xuất thiết bị, vật tư:
- Lựa chọn công nghệ tiên tiến, phù hợp với thực tiễn Việt Nam để tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải.
- Kết hợp nhập khẩu với việc từng bước tự sản xuất trong nước các thiết bị thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn.
- Nghiên cứu, ứng dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật trong lựa chọn công nghệ, thiết kế, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp hợp vệ sinh; ứng dụng công nghệ thiêu đốt hiện đại đối với chất thải y tế và công nghiệp nguy hại.
- Tăng cường hợp tác và quan hệ quốc tế:
- Chủ động tranh thủ các nguồn viện trợ từ chính phủ các nước, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức quốc tế nhằm hỗ trợ đào tạo, chuyển giao công nghệ, trợ giúp kỹ thuật và tài trợ tài chính.
3. Tổ chức thực hiện và hiệu lực thi hành
- Trách nhiệm triển khai: Giao Bộ Xây dựng và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công nghiệp, Y tế và các cơ quan liên quan cụ thể hóa các nội dung chiến lược; xây dựng quy hoạch, kế hoạch ngắn hạn và dài hạn để triển khai thực hiện hiệu quả.
- Hiệu lực thi hành: Quyết định có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 152/1999/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 1999 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội khoá IX thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 và Chủ tịch nước ký sắc lệnh công bố ngày 10 tháng 01 năm 1994;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng tại tờ trình số 08/TTr-BXD ngày 23 tháng 2 năm 1999,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt Nam đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây:
Từng bước hình thành một hệ thống đồng bộ về công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp nhằm kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1. Mục tiêu trước mắt (đến năm 2005):
- Tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện xong việc lập quy hoạch quản lý và xử lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp, trong đó ưu tiên quy hoạch các bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh; đóng cửa các bãi chôn lấp chất thải rắn không hợp vệ sinh; xây dựng một số cơ sở chế biến chất thải rắn làm phân bón khi có điều kiện;
- Phân loại chất thải nguy hại từ nguồn; bước đầu phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị;
- Thu gom, vận chuyển và xử lý 75 - 90% tổng lượng chất thải rắn phát sinh, tuỳ theo từng loại đô thị và khu công nghiệp;
- Xử lý triệt để chất thải rắn y tế nguy hại tại các đô thị lớn bằng công nghệ thiêu đốt tiên tiến; Xử lý chất thải rắn công nghiệp nguy hại bằng phương pháp thích hợp;
2. Mục tiêu lâu dài (đến năm 2020):
- Thu gom, vận chuyển và xử lý 80-95% tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp;
- Thu gom và xử lý triệt để chất thải rắn y tế nguy hại tại các đô thị bằng công nghệ tiên tiến;
- Áp dụng giải pháp thu hồi và tái chế chất thải rắn; Ưu tiên đầu tư xây dựng hai trung tâm xử lý chất thải rắn công nghiệp nguy hại tại hai khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc và phía Nam;
- Hoàn thiện công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp trên nguyên tắc đồng bộ về luật pháp, đầu tư phát triển, trợ giúp kỹ thuật, thanh tra kiểm soát.
1. Hoàn thiện khung pháp luật:
- Rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn luật trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn, nâng cao hiệu lực thi hành Luật Bảo vệ môi trường;
- Ban hành "Quy chế quản lý chất thải rắn" và "Quy chế quản lý chất thải nguy hại", cụ thể hoá việc thực hiện những điều khoản thuộc lĩnh vực quản lý chất thải rắn trong Luật Bảo vệ môi trường;
- Lập quy hoạch mạng lưới các cơ sở xử lý chất thải rắn y tế và chất thải rắn nguy hại phát sinh từ các khu công nghiệp trong toàn quốc, làm cơ sở để lập và phê duyệt các dự án đầu tư, tránh tình trạng chồng chéo, trùng lặp, lãng phí trong đầu tư;
- Ban hành tiêu chuẩn thiết kế bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh; đưa chỉ tiêu đất sử dụng để xử lý chất thải rắn vào quy chuẩn quy hoạch đô thị.
2. Nâng cao nhận thức cộng đồng và năng lực đào tạo:
- Tuyên truyền rộng rãi, thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, hướng dẫn dư luận trong việc khuyến khích, cổ vũ các hoạt động bảo vệ môi trường; tuyên truyền, giáo dục thông qua sinh hoạt thường kỳ của các tổ chức quần chúng ở cơ sở, tạo phong trào thi đua, xây dựng nếp sống mới trong khu dân cư tại các đô thị và khu công nghiệp; xuất bản và phổ biến sâu rộng các tài liệu tuyên truyền, hướng dẫn bảo vệ môi trường nói chung và công tác quản lý chất thải rắn nói riêng phù hợp với từng đối tượng và từng địa bàn;
- Đưa chương trình giáo dục môi trường vào các cấp học mầm non, phổ thông, đại học và các loại hình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ của các tổ chức chính trị, xã hội, các hội nghề nghiệp;
- Củng cố, tăng cường năng lực cho các trường, các cơ sở đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn.
3. Đổi mới chính sách tài chính, tạo nguồn vốn:
- Bộ Xây dựng chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu ban hành khung thu phí vệ sinh môi trường và khung giá cho các hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn đối với từng loại đô thị và khu công nghiệp theo nguyên tắc: trước mắt phải đảm bảo đủ chi phí để vận hành bộ máy thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn, tiến tới thu để hoàn trả lại từng phần vốn đầu tư cho Nhà nước; trên cơ sở đó, các địa phương ban hành cụ thể mức thu phí phù hợp với đô thị địa phương mình.
- Các cấp chính quyền địa phương tìm biện pháp thu đúng, thu đủ theo thẩm quyền đối với các nguồn thu ngân sách trong phạm vi phân cấp gồm thuế và phí vệ sinh môi trường; Các tổ chức và cá nhân có trách nhiệm đóng lệ phí để thu gom và xử lý chất thải rắn;
- Có cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và sử dụng đất để huy động tiềm lực trong nhân dân, của các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và quản lý chất thải rắn nói riêng;
- Thu hút nguồn lực từ nước ngoài;
- Có chính sách ưu tiên và kế hoạch phân bố hợp lý nguồn vốn ngân sách, vốn ODA, vốn vay dài hạn với lãi suất ưu đãi để đầu tư trang thiết bị và xây dựng các khu xử lý chất thải rắn; hỗ trợ cho vay để đầu tư vào các dự án quản lý chất thải rắn;
- Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia quản lý chất thải rắn và áp dụng công nghệ sản xuất sạch, ít chất thải bằng các chính sách ưu đãi theo quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi);
- Nhà nước khuyến khích các cơ sở sản xuất hàng hoá (đặc biệt là hàng hoá tiêu dùng tại các đô thị) có những nghiên cứu nhằm giảm thiểu chất thải rắn sau khi tiêu dùng hàng hoá đó như: sử dụng hợp lý vật liệu đầu vào, thay đổi công thức sản phẩm phù hợp, giảm vật liệu bao bì đóng gói, thay đổi thói quen tiêu dùng...
4. Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý chất thải rắn:
- Củng cố, phát huy các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động có hiệu quả trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn;
- Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn; tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả trong lĩnh vực này; nghiên cứu thành lập các công ty theo mô hình hoạt động của doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích.
5. Hiện đại hoá công nghệ và sản xuất thiết bị, vật tư:
- Áp dụng công nghệ tiên tiến, phù hợp với điều kiện Việt Nam trong khâu tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải rắn;
- Nhập khẩu, tiến tới tự sản xuất các thiết bị thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn;
- Nghiên cứu và ứng dụng các chỉ tiêu, tiêu chuẩn trong các khâu: lựa chọn công nghệ, thiết kế, xây dựng và vận hành bãi chôn lấp hợp vệ sinh; đồng thời đầu tư xây dựng các khu xử lý chất thải rắn nguy hại phù hợp với tiêu chuẩn và công nghệ tiên tiến;
- Ứng dụng công nghệ thiêu đốt chất thải rắn y tế và chất thải rắn công nghiệp nguy hại.
6. Tăng cường hợp tác và quan hệ quốc tế:
Tranh thủ các nguồn viện trợ của chính phủ các nước, các tổ chức phi chính phủ và các nguồn tài trợ quốc tế khác về đào tạo, học tập kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, trợ giúp kỹ thuật, hỗ trợ tài chính trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn.
Điều 2. Giao Bộ Xây dựng và Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công nghiệp, Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan cụ thể hóa các nội dung của Chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp đến năm 2020; triển khai thực hiện Chiến lược; lập quy hoạch và kế hoạch ngắn hạn, dài hạn để bảo đảm thực hiện một cách có hiệu quả.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
| Ngô Xuân Lộc (Đã ký) |
Decision No. 152/1999/QD-TTg of July 10, 1999, ratifying the strategy for management of solid waste in Vietnamese Cities and Industrial Parks till the year 2020
- Số hiệu: 152/1999/QD-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 10/07/1999
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Ngô Xuân Lộc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/07/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
