Quyết định số 150/2007/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp (VLNCN) Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2025. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm định hướng phát triển, hiện đại hóa công nghệ sản xuất và tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước đối với ngành công nghiệp đặc thù này, bảo đảm an toàn xã hội và phục vụ phát triển kinh tế đất nước.
- Quan điểm phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp
- Vật liệu nổ công nghiệp là loại hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh, do Nhà nước thống nhất quản lý chặt chẽ nhằm bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
- Quy hoạch phát triển ngành phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp quốc gia, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu sang các nước trong khu vực.
- Xây dựng ngành VLNCN thành một ngành công nghiệp tiên tiến, đồng bộ từ khâu sản xuất nguyên liệu cơ bản đến khâu chế biến thành phẩm, cung ứng và thực hiện dịch vụ nổ mìn hoàn chỉnh, bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn, tiện dụng, hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Đầu tư chiều sâu, khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có của các cơ sở sản xuất và các trung tâm nghiên cứu; phát huy nội lực kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp hóa chất với công nghiệp quốc phòng.
- Mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp thu, chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới trong sản xuất, sử dụng và dịch vụ nổ mìn.
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoàn thành tốt cả hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Mục tiêu phát triển cụ thể đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025
- Hoàn thiện và hiện đại hóa các dây chuyền sản xuất thuốc nổ nhũ tương hiện có, từng bước loại bỏ các loại thuốc nổ truyền thống có chứa thành phần TNT. Mục tiêu sau năm 2010, tỷ lệ sử dụng thuốc nổ chứa TNT chỉ còn tối đa từ 5% đến 10% tại những nơi có điều kiện cho phép, bao gồm cả việc tái chế VLNCN từ nguồn vật liệu nổ phế thải của quốc phòng.
- Đầu tư phát triển sản xuất các chủng loại thuốc nổ nhũ tương rời, nhũ tương an toàn chịu nước có sức công phá mạnh, chuyên dùng cho khai thác mỏ hầm lò có độ nguy hiểm về khí Metan và bụi nổ. Nghiên cứu và sản xuất các loại thuốc nổ, phụ kiện nổ chuyên dụng phục vụ ngành Dầu khí.
- Đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất Nitrat amôn (NH4NO3) - nguyên liệu cốt lõi để sản xuất thuốc nổ, nhằm chủ động nguồn cung cho các nhà máy sản xuất trong nước, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Đồng thời, đầu tư sản xuất các nguyên liệu phụ trợ khác phục vụ chế tạo phụ kiện nổ.
- Tổ chức lại mạng lưới sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nổ mìn theo hướng chuyên môn hóa cao, đáp ứng kịp thời, an toàn cho các hộ tiêu thụ và bảo đảm an ninh trật tự.
- Đẩy mạnh công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành và hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về VLNCN.
- Quy hoạch nhu cầu tiêu thụ và năng lực sản xuất
- Nhu cầu tiêu thụ VLNCN dự báo: Năm 2007 đạt khoảng 98.500 tấn; đến năm 2010 đạt khoảng 120.000 tấn; giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2025 nhu cầu tăng dần từ 150.000 tấn đến khoảng 180.000 tấn thuốc nổ/năm.
- Quy mô sản xuất dự kiến:
- Đến năm 2010: Sản lượng tăng dần đạt khoảng 120.000 tấn thuốc nổ/năm.
- Giai đoạn 2011 - 2015: Sản lượng tăng dần đạt khoảng 150.000 tấn thuốc nổ/năm.
- Giai đoạn 2016 - 2025: Sản lượng tăng dần đạt khoảng 180.000 tấn thuốc nổ/năm.
- Kế hoạch phát triển theo các giai đoạn:
- Giai đoạn 2007 - 2015: Đẩy nhanh tiến độ đầu tư sản xuất Nitrat amôn, thuốc nổ nhũ tương an toàn dùng trong hầm lò, nhũ tương rời, vật liệu nổ cho ngành dầu khí; nâng cấp chất lượng các loại thuốc nổ và phụ kiện nổ hiện hành.
- Giai đoạn 2016 - 2025: Tập trung đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cấp toàn diện chất lượng VLNCN; quy mô và tiến độ của các dự án sẽ được điều chỉnh linh hoạt dựa trên tình hình thực tế của giai đoạn trước.
- Nhu cầu vốn đầu tư và nguồn vốn thực hiện
- Tổng nhu cầu vốn đầu tư: Ước tính đến năm 2025 cần khoảng 1.794 tỷ đồng. Trong đó, giai đoạn 2007 - 2015 cần khoảng 1.294 tỷ đồng; giai đoạn 2016 - 2025 cần khoảng 500 tỷ đồng.
- Cơ cấu nguồn vốn:
- Nguồn vốn vay và các nguồn vốn hợp pháp khác được huy động để đầu tư trực tiếp vào các dự án sản xuất theo danh mục được phê duyệt.
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước được bố trí để thực hiện công tác điều chỉnh quy hoạch, nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, chế tạo thử nghiệm sản phẩm mới và phục vụ công tác dự trữ quốc gia về VLNCN theo quy định pháp luật hiện hành.
- Phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện
- Bộ Công thương: Chịu trách nhiệm chính trong quản lý nhà nước về VLNCN; chỉ đạo thực hiện quy hoạch; định kỳ đánh giá và đề xuất điều chỉnh quy hoạch phù hợp với thực tế; phối hợp với các Bộ, ngành hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, phối hợp với Bộ Quốc phòng chỉ đạo các doanh nghiệp sản xuất bảo đảm đủ nguồn cung cho nền kinh tế và tiếp thu công nghệ sản xuất vật liệu nổ dầu khí.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính: Phối hợp nghiên cứu xây dựng chính sách hỗ trợ, cân đối và bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước cho việc điều chỉnh quy hoạch, nghiên cứu khoa học, chế tạo thử nghiệm và dự trữ quốc gia về VLNCN.
- Bộ Khoa học và Công nghệ: Phối hợp với Bộ Công thương và Bộ Quốc phòng chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, chuyển giao và ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến của khu vực và thế giới vào ngành VLNCN Việt Nam.
- Bộ Công an: Chủ trì, phối hợp chỉ đạo công tác bảo đảm an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ trong các khâu sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, bảo quản và sử dụng VLNCN; tăng cường đấu tranh phòng chống nạn buôn bán trái phép VLNCN.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: Phối hợp nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách đặc thù đối với người lao động làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm của ngành VLNCN.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng, thủ tục cho các dự án đầu tư sản xuất VLNCN trên địa bàn; thực hiện quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh, vận chuyển và sử dụng VLNCN tại địa phương theo đúng thẩm quyền.
- Điều khoản thi hành và hiệu lực pháp lý
- Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
- Quyết định này thay thế hoàn toàn Quyết định số 64/2002/QĐ-TTg ngày 23 tháng 5 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ.
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
| CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
| Số:150/2007/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2007 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) tại tờ trình số 3514/TTr-BCN ngày 27 tháng 7 năm 2007,
QUYẾT ĐỊNH:
- Vật liệu nổ công nghiệp là hàng hoá, dịch vụ hạn chế kinh doanh do Nhà nước thống nhất quản lý. Quy hoạch phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp Việt Nam, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các địa phương, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế quốc dân về vật liệu nổ công nghiệp và xuất khẩu trong khu vực.
- Xây dựng và phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp trở thành một ngành công nghiệp tiên tiến từ khâu sản xuất nguyên liệu cơ bản đến khâu sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, cung ứng và phục vụ dịch vụ nổ hoàn chỉnh, đảm bảo các yêu cầu an toàn, tiện dụng, hiệu quả, bảo vệ môi trường sinh thái và đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
- Đầu tư chiều sâu, khai thác tối đa năng lực hiện có của các cơ sở sản xuất vật liệu nổ công nghiệp và các Trung tâm nghiên cứu. Phát huy nội lực, kết hợp chặt chẽ với các ngành công nghiệp hoá chất và quốc phòng, các lực lượng khoa học và công nghệ của đất nước tham gia nghiên cứu để phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp.
- Mở rộng hợp tác quốc tế, nghiên cứu áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới trong lĩnh vực sản xuất, sử dụng và dịch vụ nổ công nghiệp.
- Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong việc phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp, nhằm hoàn thành tốt cả 2 nhiệm vụ xây dựng kinh tế và bảo vệ Tổ quốc.
- Hoàn thiện, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất thuốc nổ nhũ tương hiện có, từng bước loại bỏ dần các loại thuốc nổ truyền thống (trong thành phần có TNT) để sau năm 2010 chỉ sử dụng không quá 5% đến 10% ở những nơi có điều kiện cho phép, kể cả sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tái chế từ vật liệu nổ phế thải quốc phòng.
- Đầu tư sản xuất thuốc nổ nhũ tương rời, nhũ tương an toàn chịu nước, sức công phá mạnh cho các mỏ hầm lò có khí Metan và bụi nổ. Nghiên cứu đầu tư sản xuất một số chủng loại thuốc nổ và phụ kiện nổ phục vụ ngành Dầu khí.
- Đầu tư sản xuất Nitrat amôn (NH4NO3) là nguyên liệu chủ yếu sản xuất thuốc nổ, chủ động cung ứng cho các cơ sở sản xuất thuốc nổ. Đầu tư sản xuất một số loại nguyên liệu khác để sản xuất phụ kiện nổ.
- Tổ chức sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, mạng lưới kinh doanh, dịch vụ nổ mìn có chuyên môn hóa cao, đáp ứng kịp thời đối với các hộ tiêu thụ, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.
- Đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực và hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước đối với ngành vật liệu nổ công nghiệp.
a) Nhu cầu tiêu thụ vật liệu nổ công nghiệp năm 2007 khoảng 98.500 tấn; đến năm 2010 khoảng 120.000 tấn; từ năm 2015 đến năm 2025 tăng dần từ 150.000 tấn thuốc nổ/năm đến khoảng 180.000 tấn thuốc nổ/năm.
b) Mức sản xuất vật liệu nổ công nghiệp
Để đáp ứng đủ về số lượng và chủng loại vật liệu nổ công nghiệp cho nhu cầu trong nước với giả cả hợp lý và có một phần xuất khẩu, dự kiến mức sản xuất vật liệu nổ công nghiệp các năm như sau:
- Đến năm 2010: tăng dần đến khoảng 120.000 tấn thuốc nổ/năm.
- Từ năm 2011 đến năm 2015: tăng dần đến khoảng 150.000 tấn thuốc nổ/năm.
- Từ năm 2016 đến năm 2025: tăng dần đến khoảng 180.000 tấn thuốc nổ/năm.
c) Kế hoạch phát triển
- Giai đoạn 2007-2015: đẩy nhanh việc đầu tư sản xuất Nitrat amôn, thuốc nổ nhũ tương an toàn hầm lò, nhũ tương rời, vật liệu nổ cho ngành Dầu khí, nâng cấp chất lượng các loại thuốc nổ và phụ kiện nổ hiện có.
- Giai đoạn 2016-2025: đầu tư thay đổi công nghệ, nâng cấp chất lượng vật liệu nổ công nghiệp; quy mô và tiến độ đầu tư các dự án tuỳ theo tình hình thực tế của giai đoạn 2007-2015 sẽ được điều chỉnh cho phù hợp.
(Danh mục các dự án đầu tư có Phụ lục kèm theo)
d) Vốn đầu tư
- Tổng vốn đầu tư phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp:
Ước tính nhu cầu vốn đầu tư đến năm 2025 khoảng 1.794 tỷ đồng, trong đó:
+ Giai đoạn 2007-2015 khoảng 1.294 tỷ đồng.
+ Giai đoạn 2016-2025 khoảng 500 tỷ đồng.
- Nguồn vốn đầu tư:
+ Vốn vay và các nguồn vốn khác để đầu tư theo danh mục các dự án được duyệt.
+ Vốn ngân sách nhà nước cho các công tác điều chỉnh Quy hoạch, nghiên cứu ứng dụng, chế tạo thử nghiệm và dự trữ quốc gia vật liệu nổ công nghiệp, thực hiện theo quy định hiện hành.
1. Bộ Công thương, với chức năng quản lý nhà nước về vật liệu nổ công nghiệp, có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện Quy hoạch. Tổ chức danh giá việc thực hiện Quy hoạch, đề xuất điều chỉnh Quy hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế; phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chính sách để phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp.
Bộ Công thương phối hợp với Bộ Quốc phòng chỉ đạo các doanh nghiệp sản xuất vật liệu nổ công nghiệp đáp ứng đủ cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân; nghiên cứu, tiếp thu công nghệ để sản xuất vật liệu nổ công nghiệp phục vụ cho ngành Dầu khí.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu chính sách hỗ trợ, cân đối, bố trí nguồn vốn ngân sách nhà nước cho các công tác điều chỉnh Quy hoạch, nghiên cứu ứng dụng, chế tạo thử nghiệm và dự trữ quốc gia vật liệu nổ công nghiệp.
3. Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp với Bộ Công thương và Bộ Quốc phòng chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ trong ngành vật liệu nổ công nghiệp, tiếp thu và tổ chức triển khai ứng dụng khoa học, kỹ thuật tiên tiến của khu vực và thế giới để phát triển ngành vật liệu nổ công nghiệp Việt Nam.
4. Bộ Công an phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan chỉ đạo việc đảm bảo về an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ trong sản xuất, kinh doanh, vận chuyển, sử dụng, bảo quản vật liệu nổ công nghiệp và chống buôn bán trái phép vật liệu nổ công nghiệp.
5. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu bổ sung, sửa đổi chế độ chính sách đối với người lao động trong ngành vật liệu nổ công nghiệp.
6. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ Quy hoạch được duyệt tạo điều kiện cho hoạt động đầu tư sản xuất vật liệu nổ công nghiệp, thực hiện việc quản lý kinh doanh, vận chuyển và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn theo thẩm quyền.
|
Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; - Văn phòng BCĐTW về phòng, chống tham nhũng; - HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; - Văn phòng Quốc hội; - Toà án nhân dân tốt cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Kiểm toán Nhà nước; - UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - VPCP: BTCN, các PCN, Website Chính phủ, Ban Điều hành 112, Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo; - Lưu: Văn thư, CN (5b). | KT. THỦ TƯỚNGPHÓ THỦ TƯỚNG
Hoàng Trung Hải |
Decision No. 150/2007/QD-TTg of September 10, 2007, approving the master plan on the development of Vietnams industrial explosive material industry up to 2015 with orientations to 2025.
- Số hiệu: 150/2007/QD-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 10/09/2007
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Hoàng Trung Hải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/10/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
