Công văn về việc xuất nhập khẩu giữa khu chế xuất và thị trường nội địa hướng dẫn các quy định chi tiết về thủ tục hải quan, chính sách thuế và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa giữa doanh nghiệp chế xuất (DNCX) và các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường nội địa Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các doanh nghiệp chế xuất nằm trong khu chế xuất hoặc doanh nghiệp chế xuất nằm ngoài khu công nghiệp, các tổ chức và cá nhân trong thị trường nội địa có quan hệ mua bán hàng hóa với khu chế xuất, cùng các cơ quan hải quan chịu trách nhiệm giám sát, quản lý hoạt động xuất nhập khẩu này.
Thủ tục hải quan đối với hàng hóa mua bán giữa khu chế xuất và nội địa
- Hàng hóa mua bán giữa doanh nghiệp nội địa và doanh nghiệp chế xuất được xác định là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu. Do đó, các bên phải thực hiện đầy đủ thủ tục hải quan tại chỗ theo quy định của pháp luật hải quan hiện hành.
- Doanh nghiệp nội địa thực hiện khai báo tờ khai xuất khẩu tại chỗ, trong khi doanh nghiệp chế xuất thực hiện khai báo tờ khai nhập khẩu tại chỗ tương ứng trong thời hạn quy định.
- Các trường hợp được miễn làm thủ tục hải quan bao gồm: hàng hóa mua bán giữa các doanh nghiệp chế xuất với nhau; hàng hóa là đồ dùng sinh hoạt, văn phòng phẩm phục vụ cho hoạt động văn phòng và sinh hoạt hàng ngày của cán bộ, nhân viên làm việc tại doanh nghiệp chế xuất.
Chính sách thuế đối với hàng hóa trao đổi giữa khu chế xuất và nội địa
- Thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu: Hàng hóa đưa từ thị trường nội địa vào khu chế xuất thuộc đối tượng áp dụng thuế xuất khẩu (nếu mặt hàng đó có thuế suất xuất khẩu). Ngược lại, hàng hóa từ khu chế xuất nhập khẩu vào thị trường nội địa là đối tượng chịu thuế nhập khẩu theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
- Thuế giá trị gia tăng (GTGT): Hàng hóa, dịch vụ từ thị trường nội địa xuất khẩu vào khu chế xuất được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% nếu đáp ứng đủ các điều kiện về hợp đồng xuất khẩu, chứng từ thanh toán qua ngân hàng và tờ khai hải quan. Hàng hóa từ khu chế xuất bán vào thị trường nội địa phải chịu thuế GTGT ở khâu nhập khẩu theo quy định.
- Trường hợp đặc biệt: Đối với nguyên liệu, vật tư do doanh nghiệp nội địa nhận gia công cho doanh nghiệp chế xuất, khi xuất trả sản phẩm gia công sẽ được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với phần trị giá nguyên liệu, vật tư đã nhập khẩu để gia công.
Quy định về giám sát hải quan và quản lý doanh nghiệp chế xuất
- Doanh nghiệp chế xuất phải thiết lập hệ thống tường rào cứng ngăn cách hoàn toàn với khu vực bên ngoài, có cổng, cửa ra vào rõ ràng và lắp đặt hệ thống camera giám sát kết nối trực tiếp với cơ quan hải quan quản lý để kiểm soát hàng hóa ra vào 24/7.
- Doanh nghiệp chế xuất có trách nhiệm lập sổ chi tiết theo dõi hàng hóa đưa vào, đưa ra và thực hiện báo cáo quyết toán tình hình sử dụng nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị nhập khẩu với cơ quan hải quan theo định kỳ năm tài chính.
Hiệu lực thi hành
Văn bản hướng dẫn này có hiệu lực áp dụng kể từ ngày ban hành, làm căn cứ pháp lý để các cục hải quan địa phương và các doanh nghiệp liên quan thống nhất thực hiện các thủ tục xuất nhập khẩu giữa khu chế xuất và thị trường nội địa.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3816/TCHQ-GSQL | Hà Nội, ngày 27 tháng 11 năm 1996 |
| Kính gửi: | - Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh, |
Thi hành ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 5160/KTTH ngày 12-10-1996 về việc xuất, nhập khẩu giữa khu chế xuất và thị trường nội địa. Sau khi có ý kiến của Bộ Thương mại tại văn bản số 11881/TM-XNK ngày 11-11-1996 và Ban quản lý khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh tại Văn bản số 25 ngày 18-10-1996, Tổng cục Hải quan hướng dẫn thực hiện thủ tục như sau:
1- Đối với việc xí nghiệp khu chế xuất mua từ thị trường nội địa lương thực, thực phẩm, hàng hoá phục vụ sinh hoạt, nguyên liệu, vật tư, phụ tùng thay thế, văn phòng phẩm để đưa vào khu chế xuất (trừ hàng cấm và hàng hạn chế xuất khẩu) quy định như sau:
1.1- Phải là hàng sản xuất tại Việt Nam và/hoặc hàng có nguồn gốc nhập khẩu hợp pháp được phép lưu thông tại thị trường Việt Nam.
1.2- Không phải xin phép Bộ Thương mại mà chỉ cần văn bản phê duyệt của Ban quản lý khu chế xuất (trừ lương thực, thực phẩm, hàng hoá phục vụ sinh hoạt, văn phòng phẩm không phải phê duyệt).
1.3- Nguyên liệu, vật tư phụ tùng thay thế phải có hợp đồng kinh tế giữa bên mua và bên bán được Ban quản lý khu chế xuất duyệt, không phải hợp đồng mua bán ngoại thương. Riêng đối với hàng lương thực, thực phẩm, hàng hoá phục vụ sinh hoạt, văn phòng phẩm phục vụ sinh hoạt, văn phòng phẩm thì không phải ký hợp đồng, mà do Hải quan giải quyết trực tiếp trên cơ sở khai báo số hàng thực mua đưa vào khu chế xuất với số lượng hợp lý để sử dụng.
1.4- Người bán lương thực, thực phẩm, phục vụ sinh hoạt, văn phòng phẩm phục cho xí nghiệp khu chế xuất là đơn vị, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế không nhất thiết là doanh nghiệp có chức năng xuất, nhập khẩu trực tiếp. Nếu bán nguyên liệu, vật tư, phụ tùng thay thế (theo lô) thì phải là doanh nghiệp được thành lập theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, kể cả xí nghiệp liên doanh đầu tư nước ngoài được bán sản phẩm do xí nghiệp sản xuất phù hợp với giấy phép đầu tư quy định.
2- Đối với hàng hoá phế liệu còn giá trị thương mại bán vào thị trường Việt Nam từ khu chế xuất, quy định như sau:
2.1- Phải có văn bản cho phép Bộ Thương mại ghi rõ tên hàng, số lượng, trị giá.
2.2- Phải là hàng thứ phẩm, phế liệu của chính xí nghiệp khu chế xuất đó được cơ quan giám định chất lượng xác nhận đủ tiêu chuẩn để sử dụng tiếp.
2.3- Người được phép mua hàng phế liệu còn giá trị thương mại phải có ngành hàng sản xuất, kinh doanh phù hợp với loại phế liệu mua, đảm bảo phế liệu phải đưa vào sản xuất, lại trở thành sản phẩm hoàn chỉnh.
2.4- Giữa người bán và người mua Việt Nam phải ký kết hợp đồng mua - bán, được Ban quản lý khu chế xuất phê duyệt.
3- Tất cả các hàng hoá nói ở điểm 1 và 2 trên đây, nếu thuộc diện có thuế và lệ phí thì phải nộp thuế, lệ phí đầy đủ theo quy định hiện hành.
|
| Bùi Duy Bảo (Đã ký) |
Công văn về việc xuất nhập khẩu giữa khu chế xuất và thị trường nội địa
- Số hiệu: 3816/TCHQ-GSQL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 27/11/1996
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Bùi Duy Bảo
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 27/11/1996
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
