Công văn hướng dẫn xử lý vướng mắc của Thông tư số 99/2000/TT-BTC được ban hành nhằm giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện chế độ quản lý tài chính đối với các quỹ xã hội, quỹ từ thiện. Văn bản đưa ra các giải pháp tháo gỡ cụ thể nhằm đảm bảo tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong hoạt động quản lý tài chính quỹ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
- Phạm vi áp dụng: Giải quyết các vướng mắc liên quan đến công tác quản lý tài chính, thu chi, kế toán và quyết toán của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện được thành lập và hoạt động theo quy định pháp luật.
- Đối tượng áp dụng: Các cơ quan quản lý nhà nước về tài chính, ban sáng lập quỹ, ban quản lý quỹ, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tài chính của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện.
Nội dung xử lý vướng mắc về quản lý tài chính quỹ
- Về nguồn thu của quỹ: Hướng dẫn chi tiết cách thức phân loại và hạch toán các nguồn thu từ đóng góp tự nguyện, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Đối với các khoản tài trợ bằng hiện vật hoặc ngoại tệ, quỹ phải thực hiện quy đổi và ghi nhận theo đúng quy định kế toán hiện hành để đảm bảo tính chính xác.
- Về nội dung chi và định mức chi: Làm rõ các khoản chi hợp pháp của quỹ, đặc biệt là giới hạn tỷ lệ chi cho bộ máy quản lý quỹ. Các khoản chi tài trợ, hỗ trợ nhân đạo phải được thực hiện đúng đối tượng, đúng mục đích và phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh theo quy định.
- Về công tác kế toán và báo cáo tài chính: Yêu cầu các quỹ thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán áp dụng cho đơn vị ngoài công lập hoặc chế độ kế toán đặc thù. Định kỳ, quỹ phải lập báo cáo tài chính, thực hiện kiểm toán (nếu có) và gửi cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để theo dõi, giám sát.
- Về công khai, minh bạch tài chính: Nhấn mạnh trách nhiệm của ban quản lý quỹ trong việc công bố công khai các khoản đóng góp, tài trợ và kết quả sử dụng nguồn vốn quỹ để người dân, nhà tài trợ và các cơ quan chức năng dễ dàng giám sát.
Hiệu lực thi hành
Văn bản hướng dẫn này có hiệu lực áp dụng trực tiếp đối với các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết các hồ sơ, thủ tục tài chính còn tồn đọng hoặc phát sinh vướng mắc từ Thông tư số 99/2000/TT-BTC, tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho hoạt động của các quỹ xã hội, từ thiện.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 10123/TC/TCT | Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2001 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ TÀI CHÍNH SỐ 10123 TC/TCT NGÀY 24 THÁNG 10 NĂM 2001 VỀ VIỆC XỬ LÝ VƯỚNG MẮC CỦA THÔNG TƯ 99/2000/TT-BTC
Kính gửi: Tổng cục Hải quan
Trả lời Công văn số 3969/TCHQ-KTTT ngày 12/09/2001 của Tổng cục Hải quan về việc xử lý vướng mắc của Thông tư 99/2000/TT-BTC hướng dẫn phân loại tập hợp máy móc thiết bị của thiết bị toàn bộ, thiết bị đồng bộ theo Biểu thuế nhập khẩu, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
1. Về cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xác nhận máy chính
Để giải quyết các vướng mắc phát sinh trong việc phân loại hàng hoá nhập khẩu là thiết bị đồng bộ, thiết bị toàn bộ được thuận lợi, phù hợp dần với thông lệ quốc tế, ngày 12/10/2000, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 99/2000/TT-BTC hướng dẫn nguyên tắc phân loại tập hợp các máy móc, thiết bị của thiết bị toàn bộ, thiết bị đồng bộ theo Biểu thuế nhập khẩu. Nội dung Thông tư đã hướng dẫn rõ nguyên tắc phân loại, thủ tục hồ sơ và tổ chức thực hiện.
Theo quy định tại Điểm 2.2 - Thông tư số 99/2000/TT-BTC ngày 12/10/2000 nêu trên thì cơ quan quản lý chuyên ngành của đơn vị sử dụng thiết bị toàn bộ, thiết bị đồng bộ là cơ quan xác nhận máy chính của tập hợp các máy móc nhập khẩu. Cơ quan quản lý chuyên ngành theo hướng dẫn tại Thông tư 99/2000/TT-BTC không phải là cơ quan cấp trên của doanh nghiệp (không phân biệt là doanh nghiệp nhà nước hay doanh nghiệp Công ty TNHH Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp địa phương) mà là Bộ hoặc Sở (không bắt buộc phải là Bộ) quản lý chuyên ngành về lĩnh vực sử dụng tập hợp máy móc, thiết bị nhập khẩu đó.
Ví dụ: Doanh nghiệp Cổ phần Hoa Long thuộc Thành phố Hà Nội có nhập khẩu một tập hợp máy móc làm bia, thì cơ quan xác nhận máy chính không phải là Uỷ ban nhân dân mà là Bộ Công nghiệp hoặc Sở Công nghiệp. Công ty liên doanh B đóng tại địa phương Quảng Ninh có nhập một dây chuyền sản xuất gạch thì cơ quan xác nhận máy chính không phải Bộ hoặc Sở kế hoạch đầu tư mà là Bộ hoặc Sở xây dựng.
2. Về trường hợp một lô hàng có nhiều máy chính
Theo hướng dẫn tại Điểm 1, Thông tư 99/2000/TT-BTC ngày 12/10/2000 của Bộ Tài chính, thì hàng hoá là một tập hợp các máy móc thuộc các nhóm phân nhóm hàng của các chương 84, 85, 86, 88, 89, 90 của Biểu thuế nhập khẩu hiện hành được áp dụng nguyên tắc phân loại theo máy chính để tính thuế nhập khẩu. Trên thực tế, cũng có những trường hợp nhập khẩu lô hàng thiết bị toàn bộ gồm rất nhiều các tập hợp máy móc khác nhau hoặc nhiều dây chuyền khác nhau. Mỗi tập hợp/dây chuyền này sẽ gồm một máy chính, vì vậy đối với những trường hợp này cần phân loại lô hàng nhập khẩu thành từng nhóm các máy móc thiết bị tương ứng với từng dây chuyền để tính thuế theo đúng nguyên tắc đã hướng dẫn tại Thông tư số 99/2000/TT-BTC nêu trên.
Bộ Tài chính có ý kiến để Tổng cục Hải quan chỉ đạo thống nhất việc thực hiện.
|
| Trương Chí Trung (Đã ký)
|
Công văn về việc xử lý vướng mắc của Thông tư 99/2000/TT-BTC
- Số hiệu: 10123/TC/TCT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 24/10/2001
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính
- Người ký: Trương Chí Trung
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 24/10/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
