Tóm tắt Công văn số 674/TCHQ-GSQL về quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
Công văn số 674/TCHQ-GSQL được Tổng cục Hải quan ban hành ngày 16/02/2004 nhằm hướng dẫn nghiệp vụ cho các Cục Hải quan tỉnh, thành phố trong việc kiểm tra, xác định quyền sử dụng hợp pháp các đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại biên giới.
Các nội dung cốt lõi của Công văn số 674/TCHQ-GSQL:
- Nguyên tắc kiểm tra quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp: Cơ quan hải quan thực hiện việc kiểm tra các chứng từ, tài liệu chứng minh quyền sử dụng hợp pháp các đối tượng SHCN (như nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, chỉ dẫn địa lý) đối với hàng hóa xuất nhập khẩu khi có nghi ngờ hoặc có yêu cầu bảo hộ từ chủ sở hữu quyền.
- Yêu cầu về hồ sơ, chứng từ chứng minh: Doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa có mang nhãn hiệu hoặc các đối tượng SHCN khác phải xuất trình được các giấy tờ hợp pháp. Các giấy tờ này bao gồm: Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng SHCN (hợp đồng li-xăng) đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền, hoặc Thư ủy quyền hợp pháp từ chủ sở hữu quyền sở hữu công nghiệp.
- Thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan Hải quan: Công văn xác định rõ cơ quan hải quan có trách nhiệm tiếp nhận đơn yêu cầu giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan của chủ thể quyền SHCN. Hải quan cửa khẩu tiến hành đối chiếu thông tin, kiểm tra thực tế hàng hóa và hồ sơ kèm theo để phát hiện các dấu hiệu xâm phạm quyền SHCN.
- Cơ chế phối hợp xử lý tranh chấp, nghi ngờ: Trong trường hợp phát sinh tranh chấp về quyền sử dụng hoặc có sự không thống nhất giữa các bên liên quan, cơ quan hải quan sẽ chủ động phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về sở hữu công nghiệp (như Cục Sở hữu trí tuệ) để xác minh, trưng cầu giám định trước khi đưa ra quyết định thông quan hoặc xử lý vi phạm.
Ý nghĩa và tác động của văn bản:
Công văn số 674/TCHQ-GSQL đóng vai trò là công cụ hướng dẫn kịp thời giúp lực lượng hải quan địa phương thống nhất quy trình xử lý đối với hàng hóa có liên quan đến sở hữu công nghiệp. Quy định này giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể quyền, ngăn chặn hành vi gian lận thương mại, nhập khẩu hàng giả mạo nhãn hiệu, đồng thời tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và minh bạch phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 674/TCHQ-GSQL | Hà Nội, ngày 16 tháng 2 năm 2004 |
Kính gửi: Cục Hải quan các tỉnh, thành phố
Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 75/PCQL ngày 28 tháng 1 năm 2004 của Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và Công nghệ phản ánh việc một số Chi Cục Hải quan khi làm thủ tục hải quan cho các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu yêu cầu doanh nghiệp xuất trình xác nhận của Cục SHTT về quyền sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) theo hợp đồng li xăng đã được đăng ký tại cục SHTT; về việc này, Tổng cục Hải quan hướng dẫn như sau:
1. Trường hợp người sử dụng các đối tượng SHCN là chủ sở hữu các đối tượng SHCN thì: nội dung quyền sử dụng đối tượng SHCN của chủ sở hữu các đối tượng SHCN đó được quy định tại Điều 34 Nghị định 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ quy định chi Tiết SHCN (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 06/2001/NĐ-CP ngày 1 tháng 2 năm 2001 của Chính phủ) (trích Điều 34 Nghị định 63/CP gửi kèm)
2. Trường hợp việc sử dụng các đối tượng SHCN được thực hiện bởi bên nhận theo hợp đồng li xăng: Theo quy định của pháp luật hiện hành, bên nhận li xăng có quyền sử dụng đối tượng SHCN trong phạm vi ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng li xăng đã được đăng ký tại Cục SHTT. Cụ thể là:
- Nếu tại Mục “dạng li-xăng” của Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng li-xăng chỉ ghi cụm từ: “độc quyền” hoặc “không độc quyền” thì được hiểu là bên nhận li-xăng được độc quyền hoặc không độc quyền thực hiện tất cả các hành vi sử dụng đối tượng SHCN liên quan quy định tại Điều 34 Nghị định 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ nêu trên, trong đó có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá mang đối tượng SHCN.
- Nếu tại Mục “dạng li-xăng” của Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng li-xăng chỉ ghi cụm từ: “độc quyền” hoặc “không độc quyền” thì được hiểu là bên nhận li-xăng được độc quyền hoặc không độc quyền thực hiện tất cả các hành vi sử dụng đối tượng SHCN liên quan quy định tại Điều 34 Nghị định 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ nêu trên, trong đó có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá mang đối tượng SHCN.
- Nếu tại Mục “dạng li-xăng” của Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng li-xăng có chỉ ra các hành vi cụ thể mà bên nhận li-xăng được phép thực hiện thì quyền sử dụng đối tượng SHCN của bên nhận li-xăng được áp dụng trong phạm vi đó (trong trường hợp bên giao chỉ cho phép bên nhận thực hiện một số hành vi sử dụng đối tượng SHCN theo Điều 34 Nghị định 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ nêu trên).
Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng li - xăng đã được đăng ký tại Cục SHTT là cơ sở pháp lý chứng nhận quyền của bên nhận li-xăng được sử dụng đối tượng SHCN trong phạm vi được chỉ ra trong Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng li-xăng và không cần bất cứ xác nhận nào khác để bên nhận thực hiện các quyền của mình.
Tổng cục Hải quan có hướng dẫn như trên, đề nghị Cục Hải quan tỉnh, thành phố nghiên cứu, thực hiện.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN |
Công văn số 674/TCHQ-GSQL ngày 16/02/2004 của Tổng cục Hải quan về việc quyền sử dụng đối tượng SHCN
- Số hiệu: 674/TCHQ-GSQL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 16/02/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Nguyễn Trọng Hùng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/02/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
