Công văn số 555 TCT/TS được Tổng cục Thuế ban hành ngày 04/03/2004 nhằm hướng dẫn và giải quyết các vướng mắc liên quan đến chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất. Đây là văn bản nghiệp vụ quan trọng giúp các cơ quan thuế địa phương thống nhất phương án thực hiện chính sách ưu đãi đất đai đối với các đối tượng chính sách, đặc biệt là người có công với cách mạng.
Đối tượng và phạm vi áp dụng chính sách miễn, giảm
- Chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất được áp dụng cho các đối tượng là người có công với cách mạng, gia đình thương binh, liệt sĩ, người hoạt động kháng chiến và các đối tượng chính sách khác theo quy định của pháp luật hiện hành.
- Việc xem xét miễn, giảm tiền sử dụng đất chỉ được thực hiện trong phạm vi hạn mức giao đất ở do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại địa phương. Đối với phần diện tích đất vượt hạn mức giao đất ở, người sử dụng đất phải nộp 100% tiền sử dụng đất theo quy định.
Nguyên tắc thực hiện miễn, giảm tiền sử dụng đất
- Trường hợp một cá nhân hoặc một hộ gia đình thuộc nhiều đối tượng được hưởng các mức ưu đãi miễn, giảm tiền sử dụng đất khác nhau thì chỉ được áp dụng một mức ưu đãi cao nhất trong số các mức ưu đãi đó.
- Đối với hộ gia đình có nhiều thành viên cùng thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, cơ quan thuế thực hiện nguyên tắc cộng dồn mức giảm trừ của các thành viên, nhưng tổng số tiền được miễn, giảm tối đa không được vượt quá số tiền sử dụng đất phải nộp trong hạn mức giao đất ở.
- Mỗi hộ gia đình hoặc cá nhân thuộc đối tượng chính sách chỉ được Nhà nước hỗ trợ miễn, giảm tiền sử dụng đất một lần duy nhất khi được giao đất hoặc khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.
Quy trình phối hợp và thủ tục hồ sơ
- Cơ quan thuế địa phương có trách nhiệm chủ trì, phối hợp chặt chẽ với cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Ủy ban nhân dân cấp xã để thẩm tra, xác định chính xác đối tượng và mức độ ưu đãi được hưởng của người nộp thuế.
- Người sử dụng đất thuộc diện được miễn, giảm phải chủ động lập hồ sơ đề nghị, kèm theo các giấy tờ chứng minh tư cách đối tượng chính sách hợp lệ gửi đến cơ quan thuế có thẩm quyền để được xem xét và ra quyết định miễn, giảm theo đúng quy định pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 555 TCT/TS | Hà Nội, ngày 04 tháng 3 năm 2004 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Hà Nam
Trả lời công văn số 59 CT/TT-HT ngày 16/2/2004 của Cục thuế tỉnh Hà Nam hỏi về chính sách miễn giảm tiền sử dụng đất; Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1/ Tại Điều 7 Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất thì đối với người đang sử dụng đất mà không có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất nhưng phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp, khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải nộp tiền sử dụng đất và nếu thuộc đối tượng chính sách được hưởng chế độ ưu đãi thì được xem xét miễn, giảm tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 9, Điều 10, Chương III của Nghị định số 38/2000/NĐ-CP nêu trên.
Trường hợp những hộ gia đình thuộc đối tượng được hưởng chế độ chính sách trong quá trình sử dụng đất có cơi nới thêm diện tích đất rộng ra so với diện tích ban đầu (phần diện tích này thuộc phần diện tích không có giấy tờ hợp lệ); Nay phù hợp với quy hoạch không có tranh chấp, khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được xem xét miễn, giảm tiền thu sử dụng đất theo chế độ quy định.
2/ Tại Điểm 1.6, Phần C Thông tư số 115/2000/TT-BTC ngày 11/13/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất quy định:
“Người được xét miễn, giảm tiền sử dụng đất phải là người có tên trong hộ khẩu gia đình có chung quyền sử dụng đất hoặc là người được giao đất, được mua nhà ở thuê thuộc sở hữu Nhà nước, được chuyển Mục đích sử dụng hoặc là người đang sử dụng đất được xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Căn cứ quy định trên, người được xét miễn, giảm tiền sử dụng đất phải là người có tên trong sổ hộ khẩu gia đình và có chung quyền sử dụng đất ngay từ ban đầu khi được giao đất. Như vậy, trường hợp hộ gia đình được cấp đất để làm nhà ở và nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hợp thức hoá cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã có thông báo nộp tiền sử dụng đất nhưng chưa nộp. Sau đó mới chuyển hộ khẩu của người trong gia đình thuộc diện chính sách xã hội (được xét miễn, giảm tiền sử dụng đất) về nhập hộ khẩu cùng với gia đình thì trường hợp này không thuộc đối tượng được xem xét, miễn giảm tiền sử dụng đất.
Tổng cục Thuế đề nghị Cục thuế tỉnh Hà Nam thực hiện theo đúng quy định của pháp luật./.
|
| KT/TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 555 TCT/TS ngày 04/03/2004 của Tổng cục thuế về việc chính sách miễn giảm tiền sử dụng đất
- Số hiệu: 555TCT/TS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 04/03/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 04/03/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
