Tóm tắt Công văn số 470 TCT/PCCS về chứng từ thanh toán đối với hàng xuất khẩu
Công văn số 470 TCT/PCCS được Tổng cục Thuế ban hành ngày 27/02/2004 nhằm hướng dẫn và giải quyết các vướng mắc liên quan đến điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương thống nhất cách xác định điều kiện để áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) 0% và thực hiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào.
1. Nguyên tắc chung về chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Theo quy định, để hàng hóa xuất khẩu được đủ điều kiện áp dụng thuế suất GTGT 0% và được hoàn thuế, doanh nghiệp bắt buộc phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Các yêu cầu cụ thể bao gồm:
- Tiền thanh toán từ khách hàng nước ngoài phải được chuyển từ ngân hàng nước ngoài vào tài khoản tiền gửi của cơ sở xuất khẩu mở tại ngân hàng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được xác định là giấy báo Có của ngân hàng về số tiền nhận được từ tài khoản của phía nước ngoài chuyển trả.
- Các thông tin trên chứng từ thanh toán (như tên người chuyển tiền, số tiền, nội dung thanh toán) phải trùng khớp hoặc liên quan trực tiếp đến hợp đồng xuất khẩu và hóa đơn thương mại đã ký kết.
2. Hướng dẫn xử lý đối với các phương thức thanh toán đặc thù
Công văn hướng dẫn chi tiết cách thức xử lý hồ sơ đối với một số trường hợp thanh toán không theo phương thức chuyển khoản thông thường, cụ thể:
- Thanh toán bù trừ giữa hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu: Trường hợp doanh nghiệp thực hiện bù trừ tiền hàng xuất khẩu với giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từ cùng một đối tác nước ngoài, phương thức này phải được quy định rõ trong hợp đồng xuất khẩu. Doanh nghiệp phải cung cấp đầy đủ hợp đồng nhập khẩu, tờ khai hải quan đối với hàng nhập khẩu và biên bản đối chiếu, xác nhận bù trừ công nợ giữa hai bên.
- Thanh toán qua bên thứ ba: Trường hợp phía nước ngoài chỉ định một bên thứ ba thực hiện thanh toán cho doanh nghiệp Việt Nam, điều khoản thanh toán này phải được thể hiện rõ ràng trong hợp đồng xuất khẩu hoặc phụ lục hợp đồng đính kèm. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng phải thể hiện đúng dòng tiền được chuyển từ bên thứ ba theo chỉ định.
- Thanh toán bằng tiền mặt: Việc thanh toán bằng tiền mặt đối với hàng hóa xuất khẩu chỉ được chấp nhận trong một số trường hợp đặc biệt theo quy định riêng của pháp luật về quản lý ngoại hối và phải có xác nhận của cơ quan hải quan hoặc cơ quan chức năng có thẩm quyền về việc mang ngoại tệ tiền mặt vào Việt Nam.
3. Trách nhiệm kiểm tra và quản lý của cơ quan thuế
Để ngăn ngừa các hành vi gian lận thương mại và trục lợi tiền hoàn thuế GTGT, Tổng cục Thuế yêu cầu:
- Doanh nghiệp xuất khẩu phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp, hợp lệ và tính chính xác của các chứng từ thanh toán đã xuất trình.
- Cơ quan thuế trực tiếp quản lý có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu chặt chẽ giữa hợp đồng xuất khẩu, tờ khai hải quan thực xuất và chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
- Trong trường hợp phát hiện dấu hiệu nghi vấn về dòng tiền hoặc tính chân thực của chứng từ thanh toán, cơ quan thuế cần chủ động phối hợp với ngân hàng thương mại phục vụ doanh nghiệp để xác minh, làm rõ trước khi quyết định hoàn thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 470 TCT/PCCS | Hà Nội, ngày 27 tháng 2 năm 2004 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Gia Lai
Trả lời công văn số 1419/CT-NV ngày 28 tháng 8 năm 2003 của Cục thuế tỉnh Gia Lai hỏi về chứng từ thanh toán đối với hàng xuất khẩu, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
Tại Điểm 1 công văn số 8282 TC/TCT ngày 12 tháng 8 năm 2003 của Bộ Tài chính về chứng từ thanh toán đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu có hướng dẫn: “Việc thực hiện thanh toán tiền bán hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng giữa các cơ sở kinh doanh Việt Nam với các tổ chức, cá nhân nước ngoài là việc chuyển tiền từ ngân hàng của Bên nhập khẩu sang ngân hàng của Bên xuất khẩu để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ cho bên xuất khẩu theo các hình thức thanh toán phù hợp với hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán cho hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu là Giấy báo có của Ngân hàng Bên xuất khẩu”.
Trường hợp Bên nước ngoài ứng trước số tiền hàng (USD) cho bên xuất khẩu dưới hình thức chuyển tiền bằng điện báo (TTr) vào tài Khoản của bên xuất khẩu tại ngân hàng ngoại thương Việt Nam để từ dần vào giá trị những lô hàng xuất khẩu nhưng việc chuyển tiền này không phù hợp với hình thức thanh toán tại công văn nêu trên và công văn số 1186/NHNN-QLNH ngày 1 tháng 11 năm 2002 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì không được hoàn thuế GTGT cho hàng xuất khẩu.
Tổng cục thuế trả lời để Cục thuế biết và thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 470 TCT/PCCS ngày 27/02/2004 của Tổng cục Thuế về việc chứng từ thanh toán đối với hàng xuất khẩu
- Số hiệu: 470TCT/PCCS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 27/02/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 27/02/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
