Giới thiệu chung về Công văn số 4301/TCHQ-KTTT
Công văn số 4301/TCHQ-KTTT được Tổng cục Hải quan ban hành ngày 10/09/2004 nhằm hướng dẫn và giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện biện pháp cưỡng chế làm thủ tục hải quan đối với các doanh nghiệp nợ thuế. Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng giúp các Cục Hải quan tỉnh, thành phố thống nhất quy trình xử lý, vừa đảm bảo thu hồi nợ đọng thuế cho ngân sách nhà nước, vừa tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong những trường hợp đặc biệt.
Các nội dung trọng tâm về cưỡng chế làm thủ tục hải quan
Văn bản tập trung hướng dẫn chi tiết về đối tượng áp dụng, các trường hợp được xem xét giải tỏa cưỡng chế tạm thời và trách nhiệm của cơ quan hải quan các cấp trong việc tổ chức thực hiện:
- Đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế: Áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động xuất nhập khẩu có hành vi chây ỳ, nợ đọng tiền thuế, tiền phạt quá thời hạn quy định nhưng không tự nguyện chấp hành nghĩa vụ nộp thuế. Biện pháp cưỡng chế chủ yếu là dừng làm thủ tục hải quan đối với các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu tiếp theo của doanh nghiệp nợ thuế.
- Nguyên tắc áp dụng cưỡng chế: Việc áp dụng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan phải được thực hiện khách quan, đúng đối tượng và đúng trình tự pháp luật. Cơ quan hải quan phải rà soát kỹ lưỡng danh sách nợ thuế trên hệ thống dữ liệu trước khi ra quyết định cưỡng chế để tránh gây thiệt hại oan sai cho doanh nghiệp.
- Giải quyết các trường hợp đặc biệt đối với nguyên liệu sản xuất: Đối với các doanh nghiệp đang bị cưỡng chế nhưng nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để trực tiếp sản xuất hàng hóa xuất khẩu, Tổng cục Hải quan hướng dẫn xem xét cho phép làm thủ tục hải quan với điều kiện doanh nghiệp phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc cam kết thanh toán nợ thuế theo lộ trình cụ thể được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Xử lý nợ thuế đối với doanh nghiệp giải thể, phá sản: Hướng dẫn quy trình phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan để thu hồi nợ thuế khi doanh nghiệp rơi vào trạng thái giải thể, phá sản hoặc ngừng hoạt động nhằm tối đa hóa khả năng thu hồi nợ trước khi áp dụng các biện pháp xóa nợ thuế theo quy định.
Trách nhiệm tổ chức thực hiện của cơ quan Hải quan
Để đảm bảo tính hiệu quả và thống nhất của chính sách cưỡng chế thuế, Tổng cục Hải quan yêu cầu các đơn vị trực thuộc thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ sau:
- Cập nhật và quản lý thông tin nợ thuế: Các Cục Hải quan địa phương phải thường xuyên theo dõi, cập nhật chính xác số liệu nợ thuế của từng doanh nghiệp vào hệ thống thông tin quản lý tập trung. Khi doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, cơ quan hải quan phải thực hiện ngay thủ tục giải tỏa cưỡng chế để doanh nghiệp tiếp tục hoạt động xuất nhập khẩu bình thường.
- Tăng cường công tác phối hợp: Đẩy mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận quản lý thuế, bộ phận kiểm tra sau thông quan và lực lượng chống buôn lậu để phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi tẩu tán tài sản, thành lập doanh nghiệp mới nhằm trốn tránh nghĩa vụ nợ thuế cũ.
- Báo cáo và đề xuất vướng mắc: Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh các trường hợp đặc biệt vượt quá thẩm quyền giải quyết, các Cục Hải quan địa phương phải kịp thời báo cáo về Tổng cục Hải quan để nhận chỉ đạo hướng dẫn cụ thể, tránh việc tự ý giải quyết gây thất thu ngân sách hoặc gây ách tắc hàng hóa sai quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4301/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 10 tháng 9 năm 2004 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH Hợp Nhất |
Trả lời công văn số 2308/CV/2004 ngày 23 tháng 8 năm 2004 của Công ty TNHH Hợp Nhất về việc chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với số nợ thuế của hàng nhập khẩu phục vụ an ninh quốc gia, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Tại Chi cục Hải quan Sân bay Nội Bài (Hà Nội): nợ thuế VAT 37.667.000 đ, của tờ khai nhập khẩu số 4409/NKD ngày 13 tháng 11 năm 2003, Tại Chi cục Hải quan Gia Lâm (Hà Nội): nợ thuế NK 227.056.000 đ, của tờ khai nhập khẩu số 979/NKD ngày 13 tháng 2 năm 2003. Đây các lô hàng Công ty nhập khẩu uỷ thác cho Bộ Công an, hiện đang chờ giải quyết thủ tục miễn thuế. Cục Hải quan Hà Nội cũng đã có công văn số 1011/HQHN-NV ngày 5 tháng 7 năm 2004 tạm thời đồng ý chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với số tiền nợ thuế của 2 tờ khai này.
2. Tại Chi cục Hải quan Hải Phòng: nợ thuế nhập khẩu 4.748.040.000 đ, của tờ khai nhập khẩu số 1151/NKD ngày 2 tháng 4 năm 2004, ngày 17 tháng 8 năm 2004 Cục Hải quan Hải phòng có công văn số 2032/HQHP-PNV xác định đây là lô hàng nhập khẩu phục an ninh quốc phòng.
3. Tại Chi Cục Hải quan KV3 (HCM): Nợ thuế NK 1.726.450.000 đ, của tờ khai nhập khẩu số 01/NK/KD/GM ngày 8 tháng 7 năm 2004. Đây là lô hàng 100 chiếc xe máy Win100 Công ty nhập khẩu uỷ thác cho Bộ Công an, hiện đang chờ giải quyết thủ tục miễn thuế.
Căn cứ chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ tại điểm 2 công văn số 652/CP-KTTH ngày 12 tháng 7 năm 2000; Các lô hàng nợ thuế nêu trên đều thuộc diện nhập khẩu để phục vụ an ninh quốc gia, và đang chờ giải quyết thủ tục miễn thuế. Để tạo điều kiện cho Công ty có thể đưa hàng hoá thiết bị về phục vụ cho hội nghị ASEM 5, Tổng cục Hải quan đồng ý để Công ty TNHH Hợp Nhất được làm thủ tục nhập khẩu các lô hàng để phục vụ hội nghị ASEM5, với điều kiện:
- Không có nợ thuế quá hạn của các lô hàng kinh doanh khác.
- Các lô hàng được phép làm thủ tục XNK phải hợp pháp, hợp lệ; Đồng thời phải chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật.
Tổng cục Hải quan thông báo để Công ty TNHH Hợp Nhất được biết và liên hệ với Cục Hải quan nơi làm thủ tục XNK để được giải quyết.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN |
Công văn số 4301/TCHQ-KTTT ngày 10/09/2004 của Tổng cục Hải quan về việc cưỡng chế làm thủ tục hải quan
- Số hiệu: 4301/TCHQ-KTTT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 10/09/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Đặng Thị Bình An
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/09/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
