Giới thiệu về Công văn số 4105 TCT/NV4
Công văn số 4105 TCT/NV4 được ban hành ngày 13/11/2003 bởi Tổng cục Thuế nhằm hướng dẫn các đơn vị, doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện việc xác định doanh thu đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp thống nhất cách hiểu và áp dụng quy định pháp luật thuế đối với các khoản doanh thu phát sinh từ hoạt động bảo hiểm, tái bảo hiểm và các dịch vụ liên quan trong bối cảnh thị trường bảo hiểm Việt Nam đang trên đà phát triển.
Các nội dung trọng tâm về xác định doanh thu kinh doanh bảo hiểm
Văn bản tập trung làm rõ phương pháp xác định doanh thu đối với từng mảng hoạt động đặc thù trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, cụ thể bao gồm:
- Doanh thu từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm gốc: Được xác định là toàn bộ số tiền phí bảo hiểm gốc thực tế phát sinh trong kỳ mà doanh nghiệp bảo hiểm thu được từ khách hàng (bên mua bảo hiểm) theo thỏa thuận trên hợp đồng bảo hiểm, sau khi đã trừ đi các khoản giảm phí, hoàn phí bảo hiểm (nếu có) do hủy bỏ hợp đồng hoặc thay đổi nội dung bảo hiểm.
- Doanh thu từ hoạt động nhận tái bảo hiểm: Là số phí nhận tái bảo hiểm được xác định theo các điều khoản của hợp đồng tái bảo hiểm đã ký kết với các doanh nghiệp bảo hiểm khác. Khoản doanh thu này phản ánh phần trách nhiệm bảo hiểm mà doanh nghiệp nhận lại từ phía doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm.
- Doanh thu từ hoa hồng nhượng tái bảo hiểm: Khoản hoa hồng mà doanh nghiệp bảo hiểm (bên nhượng tái bảo hiểm) nhận được từ doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm. Đây được tính là một khoản thu nhập/doanh thu hoạt động tài chính hoặc doanh thu khác tùy theo hướng dẫn hạch toán kế toán đặc thù của ngành bảo hiểm tại thời điểm ban hành.
- Các khoản doanh thu khác từ hoạt động đại lý và dịch vụ: Bao gồm doanh thu từ hoạt động đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, và các dịch vụ đại lý khác có thu phí theo quy định của pháp luật.
Nguyên tắc hạch toán và nghĩa vụ thuế liên quan
Để đảm bảo tính minh bạch và tránh thất thu ngân sách nhà nước, Tổng cục Thuế đưa ra các nguyên tắc hạch toán doanh thu như sau:
- Thời điểm ghi nhận doanh thu: Doanh thu kinh doanh bảo hiểm phải được ghi nhận phù hợp với nguyên tắc kế toán hiện hành, thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm hoặc thời điểm hoàn thành việc cung cấp dịch vụ, không phụ thuộc vào việc đã thu được tiền hay chưa.
- Xác định nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Toàn bộ các khoản doanh thu được xác định nêu trên là cơ sở để tính thu nhập chịu thuế TNDN của doanh nghiệp bảo hiểm trong kỳ tính thuế. Doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai đầy đủ, chính xác các khoản doanh thu này cùng với các chi phí hợp lý, hợp lệ tương ứng để xác định đúng số thuế TNDN phải nộp.
- Xác định nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng (GTGT): Đối với các dịch vụ bảo hiểm thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, doanh thu làm căn cứ tính thuế GTGT là tiền phí bảo hiểm chưa có thuế GTGT. Các hoạt động bảo hiểm không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT (như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm vật nuôi, cây trồng...) phải được hạch toán riêng biệt để áp dụng đúng chính sách thuế.
Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn áp dụng
Công văn số 4105 TCT/NV4 đóng vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng giúp các cục thuế địa phương và các doanh nghiệp bảo hiểm thống nhất phương pháp xác định doanh thu tính thuế. Việc hướng dẫn chi tiết này giúp hạn chế tối đa các tranh chấp, vướng mắc phát sinh trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4105 TCT/NV4 | Hà Nội, ngày 13 tháng 11 năm 2003 |
Kính gửi: Cục Thuế thành phố Hà Nội
Trả lời công văn số 3804 CT/TCNH ngày 24 tháng 10 năm 2003 của Cục Thuế thành phố Hà Nội về việc vướng mắc thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo Điều 15 Luật kinh doanh bảo hiểm; Căn cứ Điểm a, Mục 1.2, phần VI Thông tư số 72/2001/TT-BTC ngày 28 tháng 8 năm 2001 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2001/NĐ-CP ngày 01 tháng 8 năm 2001 của Chính phủ quy định chế độ tài chính đối vớin d bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thì: “Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc khi có bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đóng đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm” và “Doanh nghiệp bảo hiểm hạch toán thu phí bảo hiểm gốc vào thu nhập khi phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm với bên mua bảo hiểm theo quy định tại Điều 15 Luật kinh doanh bảo hiểm”.
Căn cứ quy định trên đây thì doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện hạch toán tiền phí bảo hiểm gốc vào doanh thu khi hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết (hoặc khi doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm) và bên mua bảo hiểm đã thanh toán phí bảo hiểm. Đối với những nghiệp vụ bảo hiểm chưa bảo đảm 2 điều kiện nêu trên (đã ký kết hợp đồng bảo hiểm và đã thu được tiền phí bảo hiểm) thì chưa được xác định là doanh thu của doanh nghiệp bảo hiểm.
Đề nghị Cục Thuế thành phố Hà Nội nghiên cứu để giải quyết đối với trường hợp Công ty cổ phần bảo hiểm Pjico theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 4105 TCT/NV4 ngày 13/11/2003 của Tổng cục thuế về việc xác định doanh thu đối với kinh doanh bảo hiểm
- Số hiệu: 4105TCT/NV4
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 13/11/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 14/11/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
