Giới thiệu khái quát về Công văn số 3812 TCT/NV4
Công văn số 3812 TCT/NV4 được Tổng cục Thuế ban hành ngày 23/10/2003 hướng dẫn về giá tính lệ phí trước bạ đối với các loại tài sản, đặc biệt là phương tiện giao thông như ô tô, xe máy. Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng dành cho các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm thống nhất phương pháp xác định trị giá tính thuế, hạn chế thất thu ngân sách nhà nước và đảm bảo tính công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của người nộp thuế.
Các nội dung chính sách cốt lõi về giá tính lệ phí trước bạ
- Nguyên tắc xác định giá tính lệ phí trước bạ: Giá làm căn cứ tính lệ phí trước bạ đối với tài sản là giá trị tài sản thực tế trên thị trường nội địa tại thời điểm kê khai nộp lệ phí trước bạ. Giá trị này được xác định dựa trên Bảng giá tối thiểu do Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành theo quy định của Chính phủ và Bộ Tài chính.
- Xử lý trường hợp có sự chênh lệch giữa giá hóa đơn và bảng giá của UBND:
- Trường hợp giá ghi trên hóa đơn mua bán hợp pháp cao hơn giá do UBND cấp tỉnh quy định: Cơ quan thuế sẽ áp dụng giá ghi trên hóa đơn để làm căn cứ tính lệ phí trước bạ.
- Trường hợp giá ghi trên hóa đơn mua bán thấp hơn hoặc bằng giá do UBND cấp tỉnh quy định: Cơ quan thuế sẽ áp dụng mức giá do UBND cấp tỉnh ban hành để tính lệ phí trước bạ, không áp dụng theo giá hóa đơn thấp hơn nhằm tránh tình trạng gian lận thương mại, ghi hóa đơn giá trị thấp để trốn thuế.
- Xác định giá đối với tài sản chưa có trong bảng giá của UBND: Đối với các loại tài sản mới xuất hiện trên thị trường hoặc tài sản nhập khẩu chưa được UBND cấp tỉnh quy định trong bảng giá, cơ quan thuế địa phương có trách nhiệm phối hợp với Sở Tài chính để tham mưu cho UBND ban hành giá bổ sung, hoặc tạm thời áp dụng theo giá thị trường của tài sản tương đương hoặc giá nhập khẩu thực tế cộng với các khoản thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có).
Trách nhiệm và thẩm quyền của cơ quan thuế địa phương
- Công tác quản lý và kiểm tra: Các Chi cục Thuế có nhiệm vụ kiểm tra chặt chẽ hồ sơ khai lệ phí trước bạ, đối chiếu kỹ lưỡng giữa hóa đơn mua hàng, tờ khai nguồn gốc xe nhập khẩu hoặc phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng với bảng giá hiện hành của địa phương.
- Phối hợp liên ngành: Cục Thuế các tỉnh, thành phố phải chủ động phối hợp với Sở Tài chính và các cơ quan liên quan thường xuyên theo dõi biến động giá cả thị trường. Khi phát hiện giá thị trường của tài sản có biến động tăng hoặc giảm từ 20% trở lên so với bảng giá của UBND, phải kịp thời báo cáo và đề xuất UBND điều chỉnh, sửa đổi bảng giá cho phù hợp với thực tế.
- Xử lý vi phạm: Nghiêm cấm các hành vi tự ý hạ giá tính lệ phí trước bạ trái quy định hoặc chấp thuận các hóa đơn giả mạo, hóa đơn ghi sai giá trị thực tế nhằm mục đích trục lợi hoặc gây thất thoát ngân sách.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản
Công văn số 3812 TCT/NV4 đã tạo ra hành lang hướng dẫn nghiệp vụ rõ ràng cho cán bộ thuế trong giai đoạn đầu thập niên 2000, giúp giải quyết triệt để các vướng mắc phát sinh khi áp dụng giá tính lệ phí trước bạ giữa giá hóa đơn và giá quy định của Nhà nước. Văn bản góp phần chuẩn hóa quy trình thu nộp ngân sách, tăng cường tính minh bạch và hiệu quả của công tác quản lý thuế tại các địa phương trên cả nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3812 TCT/NV4 | Hà Nội, ngày 23 tháng 10 năm 2003 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh
Trả lời công văn số 3064/CT/TBTK của Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh về việc giá tính lệ phí trước bạ xe máy sản xuất và lắp ráp trong nước, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ tiết b2, điểm 2, Mục II Thông tư số 28/2000/TT-BTC ngày 18 tháng 4 năm 2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ quy định: “Đối với tài sản mua trực tiếp của cơ sở được phép sản xuất, lắp ráp trong nước (gọi chung là cơ sở sản xuất) bán ra là giá thực tế thanh toán (giá bán bao gồm cả thuế giá trị gia tăng) ghi trên hoá đơn bán hàng hợp pháp.
Tổ chức, cá nhân mua hàng của các đại lý bán hàng trực tiếp ký hợp đồng đại lý với cơ sở sản xuất và bán đúng giá của cơ sở sản xuất quy định thì cũng được coi là mua trực tiếp của cơ sở sản xuất. Trường hợp này, cơ sở sản xuất phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan Thuế địa phương nơi đại lý bán hàng về giá bán của từng loại hàng thuộc loại tài sản chịu lệ phí trước bạ trong từng thời kỳ. Cơ quan Thuế đối chiếu giữa giá bán ghi trên hoá đơn bán hàng của đại lý xuất cho khách hàng với giá bán theo thông báo giá của cơ sở sản xuất, nếu phù hợp thì tính lệ phí trước bạ theo giá thực tế thanh toán.”
Do đó, đối với các loại xe ô tô, xe gắn máy lắp ráp, sản xuất trong nước mà cơ sở sản xuất lắp ráp xe dã có thông báo gián bán theo từng thời điểm bằng văn bản gửi cơ quan thuế thì cơ quan thuế thu lệ phí trước bạ theo mức bán bán tại thời điểm thông báo của cơ sở sản xuất. Trường hợp giá bán ghi trên hoá đơn cao hơn mức giá thông báo của cơ sở sản xuất thì thu theo giá ghi trên hoá đơn.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Quảng Ninh biết và thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 3812 TCT/NV4 ngày 23/10/2003 của Tổng cục Thuế về việc giá tính thuế lệ phí trước bạ
- Số hiệu: 3812TCT/NV4
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 23/10/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 23/10/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
