Giới thiệu chung về Công văn số 3809 TCT/NV2
Công văn số 3809 TCT/NV2 được ban hành ngày 23/10/2003 bởi Tổng cục Thuế nhằm hướng dẫn các đơn vị, tổ chức tín dụng thực hiện việc hạch toán kế toán và xác định nghĩa vụ thuế đối với khoản doanh thu phát sinh từ hoạt động bảo lãnh tham gia dự thầu. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp thống nhất cách ghi nhận doanh thu và thực hiện nghĩa vụ ngân sách nhà nước đối với các khoản phí bảo lãnh trong giai đoạn này.
Nội dung trọng tâm về hạch toán doanh thu bảo lãnh tham gia dự thầu
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế tại Công văn số 3809 TCT/NV2, việc hạch toán khoản doanh thu từ hoạt động bảo lãnh tham gia dự thầu được quy định cụ thể như sau:
- Nguyên tắc ghi nhận doanh thu: Khoản phí bảo lãnh tham gia dự thầu mà tổ chức tín dụng thu được từ khách hàng phải được ghi nhận vào doanh thu hoạt động nghiệp vụ của tổ chức tín dụng. Doanh thu này phải được phản ánh đầy đủ, kịp thời vào sổ sách kế toán theo đúng chế độ kế toán áp dụng cho các tổ chức tín dụng hiện hành tại thời điểm phát sinh giao dịch.
- Thời điểm ghi nhận doanh thu: Doanh thu từ phí bảo lãnh dự thầu được xác định khi tổ chức tín dụng hoàn thành việc cung ứng dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng (phát hành thư bảo lãnh) và khách hàng chấp nhận thanh toán hoặc đã thanh toán khoản phí này.
- Phương pháp hạch toán: Các khoản thu về bảo lãnh dự thầu được hạch toán vào tài khoản thu nhập từ hoạt động dịch vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Trường hợp khoản phí bảo lãnh được thu trước cho nhiều kỳ hoặc thời gian bảo lãnh kéo dài qua nhiều kỳ kế toán, tổ chức tín dụng phải thực hiện phân bổ doanh thu phù hợp với thời gian bảo lãnh thực tế để đảm bảo nguyên tắc phù hợp trong kế toán.
Quy định về nghĩa vụ thuế liên quan
Bên cạnh việc hạch toán kế toán, Công văn số 3809 TCT/NV2 cũng làm rõ nghĩa vụ thuế của các tổ chức tín dụng đối với khoản doanh thu này:
- Thuế giá trị gia tăng (GTGT): Hoạt động bảo lãnh tham gia dự thầu là một dạng dịch vụ cấp tín dụng hoặc dịch vụ tài chính. Tùy thuộc vào quy định pháp luật về thuế GTGT tại thời điểm áp dụng, khoản phí bảo lãnh này sẽ được xác định thuộc đối tượng chịu thuế hoặc không chịu thuế GTGT theo đúng danh mục dịch vụ tài chính quy định. Tổ chức tín dụng có trách nhiệm xuất hóa đơn và kê khai thuế GTGT (nếu có) theo đúng quy định.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Khoản doanh thu từ phí bảo lãnh tham gia dự thầu sau khi trừ đi các chi phí hợp lý, hợp lệ liên quan trực tiếp đến hoạt động bảo lãnh sẽ được dùng để xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Tổ chức tín dụng phải tổng hợp khoản thu nhập này vào kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ để tính và nộp thuế TNDN theo thuế suất quy định.
Ý nghĩa và tác động của văn bản
Việc ban hành Công văn số 3809 TCT/NV2 mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp:
- Đối với tổ chức tín dụng: Giúp các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính có cơ sở pháp lý rõ ràng để thực hiện hạch toán kế toán đồng bộ, tránh các sai sót trong việc ghi nhận doanh thu và chi phí, từ đó hạn chế rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
- Đối với cơ quan thuế: Tạo công cụ giám sát, kiểm tra và thanh tra thuế hiệu quả, đảm bảo nguồn thu ngân sách nhà nước từ hoạt động dịch vụ bảo lãnh của các tổ chức tín dụng được thu đúng, thu đủ và kịp thời.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3809 TCT/NV2 | Hà Nội, ngày 23 tháng 10 năm 2003 |
Kính gửi: Công ty xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh - truyền hình
Trả lời công văn số 336/ĐA-TH ngày 24 tháng 09 năm 2003 của Công ty xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh - truyền hình về việc đề nghị hướng dẫn hạch toán khoản thu về bảo lãnh tham gia dự thầu, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
Theo Quy chế và tổ chức hoạt động, năm 2002 Trung tâm công nghệ điện ảnh - truyền hình và đơn vị trực thuộc Công ty xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh - truyền hình được Công ty xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh - truyền hình bảo lãnh tham gia dự thầu, có nghĩa vụ trích nộp khoản chi phí quản lý nộp cấp trên cho Công ty xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh - truyền hình với mức 1% số doanh thu trúng thầu.
Tuy nhiên đến năm 2003, Công ty phát triển công nghệ và truyền hình hạch toán độc lập (được tổ chức sắp xếp lại từ Trung tâm Công nghệ điện ảnh - truyền hình) mới thực hiện hạch toán khoản chi phí bảo lãnh tham gia dự thầu (trước đây là khoản chi phí quản lý nộp cấp trên) vào chi phí năm 2003 và đã thực hiện thanh toán cho Công ty xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh - truyền hình với mức 1% số doanh thu trúng thầu. Việc hạch toán khoản phí bảo lãnh dự thầu được thực hiện như sau:
- Công ty xuất nhập khẩu thiết bị diện ảnh - truyền hình khi nhận được khoản phí bảo lãnh nêu trên phải thực hiện xuất hoá đơn GTGT cho Trung tâm công nghệ điện ảnh - truyền hình với thuế suất thuế GTGT là 10%. Công ty xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh - truyền hình hạch toán doanh thu bảo lãnh dự thầu đồng thời kê khai, tính nộp thuế GTGT theo quy định hiện hành.
- Công ty phát triển công nghệ và truyền hình Căn cứ hoá đơn GTGT của Công ty xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh - truyền hình, kê khai thuế GTGT đầu vào và hạch toán chi phí kinh doanh trong kỳ.
Tổng cục Thuế thông báo để Công ty xuất nhập khẩu thiết bị điện ảnh - truyền hình và Công ty phát triển công nghệ và truyền hình biết và thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 3809 TCT/NV2 ngày 23/10/2003 của Tổng cục Thuế về việc hạch toán khoản doanh thu bảo lãnh tham gia dự thầu
- Số hiệu: 3809 TCT/NV2
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 23/10/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 23/10/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
