Tổng quan về Công văn số 3675/TCT-TNCN
Công văn số 3675/TCT-TNCN do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế Thu nhập cá nhân (TNCN) đối với các khoản phụ cấp, trợ cấp thôi việc chi trả cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Văn bản này làm rõ ranh giới giữa khoản thu nhập được miễn thuế và khoản thu nhập phải chịu thuế TNCN, giúp doanh nghiệp và người lao động thực hiện đúng nghĩa vụ thuế.
- Quy định về khoản trợ cấp thôi việc thuộc đối tượng miễn thuế TNCN
- Các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm được chi trả theo đúng quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành sẽ không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
- Mức trợ cấp thôi việc được miễn thuế được xác định dựa trên thời gian làm việc thực tế của người lao động tại doanh nghiệp và mức lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi thôi việc theo quy định pháp luật về lao động.
- Quy định về khoản trợ cấp thôi việc vượt mức (Thu nhập chịu thuế)
- Trường hợp người sử dụng lao động chi trả cho người lao động khoản trợ cấp thôi việc cao hơn mức quy định của Bộ luật Lao động (khoản hỗ trợ thêm ngoài quy định pháp luật) thì phần chi vượt mức này được xác định là thu nhập chịu thuế TNCN.
- Doanh nghiệp có trách nhiệm bóc tách rõ ràng giữa phần trợ cấp theo đúng luật lao động (miễn thuế) và phần hỗ trợ thêm (chịu thuế) để thực hiện kê khai, khấu trừ thuế chính xác.
- Hướng dẫn phương thức khấu trừ thuế TNCN đối với khoản chi vượt mức
- Trường hợp chi trả khoản vượt mức trước khi chấm dứt hợp đồng lao động: Khoản thu nhập này được cộng chung vào tiền lương, tiền công trong tháng để tính thuế TNCN theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.
- Trường hợp chi trả khoản vượt mức sau khi đã chấm dứt hợp đồng lao động: Nếu khoản chi trả từ 2.000.000 đồng trở lên cho mỗi lần chi trả, doanh nghiệp thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên tổng thu nhập chi trả (trừ trường hợp người lao động làm cam kết theo quy định nếu tổng thu nhập chưa đến mức phải nộp thuế).
- Trách nhiệm của tổ chức chi trả thu nhập và người lao động
- Doanh nghiệp (tổ chức chi trả) có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN đối với phần phụ cấp thôi việc vượt mức trước khi thanh toán cho người lao động, đồng thời cấp chứng từ khấu trừ thuế cho người lao động nếu có yêu cầu.
- Người lao động có trách nhiệm phối hợp với doanh nghiệp để cung cấp thông tin, hồ sơ cần thiết và thực hiện quyết toán thuế TNCN cuối năm theo quy định của pháp luật nếu thuộc trường hợp phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3675/TCT-TNCN V/v: thuế TNCN đối với Khoản phụ cấp thôi việc | Hà Nội, ngày 10 tháng 09 năm 2007 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Hưng Yên
Trả lời công văn số 1642/CT-QLKK ngày 15/8/2007 của Cục Thuế tỉnh Hưng Yên về việc hướng dẫn nộp thuế TNCN đối với Khoản trợ cấp thôi việc, tiền thuê nhà do công ty chi trả cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ Điểm 4.6, Mục 4, phần I Thông tư 81/2004/TT-BTC ngày 13/8/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 147/2007/NĐ-CP ngày 23/7/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao thì: “ Các Khoản thu nhập không chịu thuế bao gồm: trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo chế độ Nhà nước quy định. Trường hợp cá nhân được hưởng Khoản trợ cấp khi thôi việc tại một đơn vị này để chuyển sang làm việc tại một đơn vị khác trong cùng một Công ty, Văn phòng Công ty đa quốc gia thì không áp dụng quy định này.”;
Điều 42 Bộ luật lao động quy định: “Khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương nếu có”.
Do vậy, trường hợp Công ty TNHH UGINOX Việt Nam chi trả Khoản trợ cấp thôi việc cho cá nhân người nước ngoài khi chấm dứt hợp đồng lao động thì phần trợ cấp thôi việc theo chế độ Nhà nước quy định là Khoản thu nhập không chịu thuế thu nhập cá nhân. Phần trợ cấp thôi việc vượt mức so với quy định của Nhà nước và Khoản tiền thuê nhà mà công ty chi trả cho cá nhân người nước ngoài là Khoản thu nhập thường xuyên chịu thuế thu nhập cá nhân.
Mức trợ cấp thôi việc được xác định trên cơ sở tiền lương theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi cá nhân chấm dứt hợp đồng lao động theo hướng dẫn quy định tại Điều 15, Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Bộ luật lao động về tiền lương.
Các chứng từ làm căn cứ xác nhận về trợ cấp thôi việc của người Việt Nam và người nước ngoài là các chứng từ chi trả trợ cấp thôi việc của người sử dụng lao động và các chứng từ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với các trường hợp như hết hạn hợp đồng, người lao động hoặc người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng … theo quy định tại Điều 36, 37, 38, hoặc Khoản 1, Điều 41 của Bộ luật lao động.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Hưng Yên biết và hướng dẫn Công ty TNHH Uginox thực hiện./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Bộ luật Lao động 1994
- 2Nghị định 114/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật lao động về tiền lương
- 3Thông tư 81/2004/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 147/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao do Bộ Tài chính ban hành
- 4Công văn 1258/TCT-TNCN về thuế thu nhập cá nhân đối với khoản phụ cấp, trợ cấp do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn số 3675/TCT-TNCN về thuế Thu nhập cá nhân đối với khoản phụ cấp thôi việc do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 3675/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 10/09/2007
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Lê Hồng Hải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/09/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
