Tóm tắt Công văn số 3604 TCT/NV2 ngày 07/10/2003 của Tổng cục Thuế về việc lập lại hoá đơn giá trị gia tăng
Công văn số 3604 TCT/NV2 được ban hành nhằm hướng dẫn các cơ quan thuế và doanh nghiệp thực hiện thống nhất quy trình, thủ tục lập lại và điều chỉnh hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) trong các trường hợp xảy ra sai sót hoặc thay đổi giao dịch, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật về thuế và hóa đơn.
- Các trường hợp được phép lập lại hoặc điều chỉnh hóa đơn GTGT
- Hóa đơn GTGT đã lập nhưng phát hiện có sai sót về các chỉ tiêu định danh như: tên doanh nghiệp, địa chỉ, mã số thuế của bên mua hoặc bên bán.
- Hóa đơn ghi sai các chỉ tiêu về tài chính bao gồm: đơn giá, số lượng, thành tiền, thuế suất thuế GTGT, tiền thuế GTGT hoặc tổng cộng tiền thanh toán.
- Trường hợp hàng hóa đã bán nhưng bị người mua trả lại một phần hoặc toàn bộ do không đúng quy cách, chất lượng hoặc không đúng thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế.
- Quy trình xử lý và thủ tục lập lại hóa đơn GTGT
- Trường hợp chưa kê khai thuế: Khi phát hiện hóa đơn đã lập có sai sót nhưng cả hai bên mua và bán chưa tiến hành kê khai thuế, người bán phải thực hiện thu hồi hóa đơn viết sai (gạch chéo các liên để hủy bỏ) và lập lại hóa đơn mới đúng quy định để giao cho người mua.
- Trường hợp đã kê khai thuế: Nếu hóa đơn sai sót đã được một trong hai bên hoặc cả hai bên kê khai thuế, hai bên phải lập biên bản điều chỉnh hóa đơn (hoặc biên bản thu hồi hóa đơn cũ) ghi rõ sai sót và nội dung cần điều chỉnh. Sau đó, người bán lập hóa đơn mới hoặc hóa đơn điều chỉnh, trên hóa đơn phải ghi rõ: "Điều chỉnh cho hóa đơn số..., ký hiệu..., ngày... tháng... năm...".
- Yêu cầu về biên bản thỏa thuận: Biên bản điều chỉnh hoặc thu hồi hóa đơn phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của người đại diện theo pháp luật và đóng dấu của cả hai bên mua và bán. Biên bản này là chứng từ pháp lý bắt buộc phải lưu trữ cùng với hóa đơn để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra thuế.
- Nguyên tắc xử lý khi trả lại hàng hóa
- Đối với người mua là tổ chức, cá nhân kinh doanh có hóa đơn: Khi trả lại hàng hóa, người mua phải lập hóa đơn trả lại hàng cho người bán, trên hóa đơn ghi rõ lý do trả lại hàng và số tiền thuế GTGT tương ứng để hai bên thực hiện điều chỉnh giảm doanh thu và thuế đầu ra, đầu vào.
- Đối với người mua là cá nhân không có hóa đơn: Hai bên phải lập biên bản trả lại hàng hóa ghi rõ lý do, số lượng, giá trị hàng trả lại và số tiền thuế GTGT. Người bán thực hiện thu hồi hóa đơn đã lập để làm căn cứ điều chỉnh giảm doanh thu và thuế GTGT đầu ra theo quy định.
- Trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan thuế
- Doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các biên bản điều chỉnh, biên bản thu hồi và hóa đơn lập lại.
- Nghiêm cấm các hành vi tự ý hủy hóa đơn không đúng quy trình hoặc lợi dụng việc lập lại hóa đơn để hợp thức hóa các giao dịch bất hợp pháp, trốn thuế hoặc gian lận thuế.
- Cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát và kiểm tra việc thực hiện lập lại hóa đơn của doanh nghiệp, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về quản lý và sử dụng hóa đơn.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3604 TCT/NV2 | Hà Nội, ngày 07 tháng 10 năm 2003 |
| Kính gửi: | Chi nhánh Công ty Công nghệ phẩm Đà Nẵng tại Hà Nội |
Trả lời công văn số 08 CNP/2003 ngày 25/8/2003 của Chi nhánh Công ty Công nghệ phẩm Đà Nẵng tại Hà Nội về đề nghị được “lập lại hoá đơn GTGT” đã kê khai thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Điểm 1.10 Mục VI, Phần B Thông tư số 1290/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 07/11/2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn quy định về trường hợp lập lại hoá đơn đã nêu: “những trường hợp hoá đơn đã được xé rời khỏi quyển, sau đó phát hiện sai phải huỷ bỏ thì tổ chức, cá nhân phải lập biên bản có chữ ký xác nhận của bên mua hàng, bên bán hàng, nếu là tổ chức phải có ký xác nhận (đóng dấu) của người đứng đầu tổ chức; bên mua hàng, bên bán hàng phải chịu tn trước pháp luật về số hoá đơn huỷ bỏ”.
Căn cứ quy định trên và nội dung sự việc đã trình bày tại công văn của đơn vị, Tổng cục Thuế chấp nhận đề nghị của Chi nhánh Công ty Công nghệ phẩm Đà Nẵng tại Hà Nội được huỷ bỏ số hoá đơn đã phát hành và kê khai nộp thuế tại Cục thế thành phố Hà Nội theo lượng hàng hoá đơn vị đã xuất kho nhưng chưa được bên mua chấp nhận, gồm các số sau: AB 04855, AB 04856, DV 078901, DV 078902, DV 078920, DV 078921, DV 078922, DV 078925 (số liệt kê tại biên bản huỷ hoá đơn, đã được lập giữa bên bán hàng là Chi nhánh Công ty Công nghệ phẩm Đà Nẵng tại Hà Nội và bên mua hàng là Công ty TNHH T&T Hưng Yên) và lập lại hoá đơn theo đúng lượng hàng bên mua đã chấp nhận.
Tuy nhiên, đề được huỷ số hoá đơn đã kê khai nộp thuế, đơn vị phải có Công văn gửi Cục Thuế thành phố Hà Nội đề nghị được kiểm tra, đối chiếu lại số hoá đơn xin huỷ, lập lại hoá đơn theo quy định, đồng thời Chi nhánh Công ty Công nghệ phẩm Đà Nẵng tại Hà Nội bị xử phạt hành chính về chế độ sử dụng hoá đơn./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 3604 TCT/NV2 ngày 07/10/2003 của Tổng cục thuế về việc lập lại hoá đơn giá trị gia tăng
- Số hiệu: 3604TCT/NV2
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 07/10/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/10/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
