Tóm tắt Công văn số 3549/TM-XNK về Quy chế xuất xứ ASEAN - Ấn Độ
Công văn số 3549/TM-XNK được Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) ban hành nhằm hướng dẫn và triển khai thực hiện các quy định về quy chế xuất xứ hàng hóa trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại tự do giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Ấn Độ. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết nội dung phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của quy chế này.
Thông tin tổng quan về văn bản
- Tên văn bản: Công văn số 3549/TM-XNK về việc quy chế xuất xứ ASEAN - Ấn Độ.
- Cơ quan ban hành: Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương).
- Ngày ban hành: 07/07/2004.
- Phạm vi điều chỉnh: Hướng dẫn áp dụng quy chế xuất xứ đối với hàng hóa xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên ASEAN và Ấn Độ nhằm hưởng các ưu đãi thuế quan.
Nội dung chi tiết Phần mở đầu và các Điều khoản đầu (Điều 1 - Điều 4)
Phần này đặt nền móng pháp lý và định nghĩa các nguyên tắc cơ bản để xác định một sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ hay không. Cụ thể:
1. Phần mở đầu và mục tiêu tổng quát
Phần mở đầu khẳng định cam kết thúc đẩy hợp tác kinh tế, thương mại giữa các nước thành viên ASEAN và Ấn Độ. Quy chế xuất xứ được xây dựng nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và tạo thuận lợi cho luồng hàng hóa dịch chuyển giữa các bên ký kết, đồng thời ngăn ngừa việc gian lận xuất xứ từ các nước thứ ba ngoài hiệp định.
2. Điều 1: Các định nghĩa tiêu chuẩn
Điều khoản này làm rõ các thuật ngữ chuyên ngành được sử dụng xuyên suốt trong toàn bộ văn bản quy chế, bao gồm:
- Sản phẩm có xuất xứ: Là sản phẩm đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về xuất xứ được quy định cụ thể trong quy chế này.
- Nguyên liệu không có xuất xứ: Các nguyên vật liệu nhập khẩu từ các nước ngoài khu vực ASEAN - Ấn Độ hoặc không xác định được nguồn gốc xuất xứ.
- Trị giá FOB: Giá trị hàng hóa đã bao gồm chi phí vận chuyển đến cảng hoặc địa điểm xuất khẩu cuối cùng.
3. Điều 2: Tiêu chí xác định xuất xứ hàng hóa
Quy định các nguyên tắc chung để một sản phẩm được công nhận là có xuất xứ từ một nước thành viên xuất khẩu. Hàng hóa được coi là có xuất xứ nếu thuộc một trong hai trường hợp sau:
- Sản phẩm có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại nước thành viên xuất khẩu theo quy định tại Điều 3.
- Sản phẩm có xuất xứ không thuần túy nhưng đáp ứng được các điều kiện gia công, chế biến sâu hoặc tỷ lệ hàm lượng giá trị khu vực theo quy định tại Điều 4.
4. Điều 3: Hàng hóa có xuất xứ thuần túy (Wholly Obtained)
Quy định chi tiết danh mục các sản phẩm được coi là có xuất xứ hoàn toàn từ một nước thành viên mà không sử dụng bất kỳ nguyên liệu nhập khẩu nào từ bên ngoài. Danh mục này bao gồm:
- Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được gieo trồng và thu hoạch tại nước thành viên đó.
- Động vật sống được sinh ra và nuôi dưỡng tại nước thành viên đó và các sản phẩm thu được từ động vật sống này.
- Sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt hoặc nuôi trồng thủy sản tại nước thành viên đó.
- Khoáng sản và các chất tự nhiên khác được khai thác từ đất, nước hoặc đáy biển của nước thành viên đó.
- Sản phẩm đánh bắt từ biển khơi bằng tàu của nước thành viên và các sản phẩm được chế biến ngay trên tàu chế biến của nước thành viên đó.
5. Điều 4: Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy (Not Wholly Obtained)
Đây là điều khoản cốt lõi áp dụng cho các sản phẩm có sử dụng nguyên liệu nhập khẩu hoặc không rõ nguồn gốc. Để được công nhận xuất xứ, sản phẩm phải đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật nghiêm ngặt:
- Tiêu chí Hàm lượng giá trị khu vực (RVC): Sản phẩm phải có hàm lượng giá trị gia tăng nội địa hoặc khu vực đạt tỷ lệ phần trăm tối thiểu theo quy định (thông thường là từ 35% trở lên so với trị giá FOB của sản phẩm).
- Tiêu chí Chuyển đổi mã số thuế quan (CTC): Quá trình sản xuất, gia công phải tạo ra sự thay đổi về mã số phân loại hàng hóa (mã HS) ở cấp độ quy định (ví dụ: chuyển đổi nhóm thuế quan hoặc phân nhóm thuế quan) giữa nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ và sản phẩm đầu ra cuối cùng.
- Yêu cầu về công đoạn gia công vượt đơn giản: Các công đoạn như đóng gói, dán nhãn, phân loại, bảo quản đơn giản không được coi là công đoạn sản xuất hoặc chế biến sâu để đạt được xuất xứ.
Việc nắm vững các quy định từ Điều 1 đến Điều 4 giúp các doanh nghiệp xuất nhập khẩu chủ động trong việc chuẩn bị chứng từ chứng nhận xuất xứ (C/O Form AI), từ đó tối ưu hóa chi phí thuế quan và nâng cao năng lực cạnh tranh tại thị trường ASEAN và Ấn Độ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ THƯƠNG MẠI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3549/TM-XNK | Hà Nội, ngày 07 tháng 7 năm 2004 |
Kính gửi: Tổng cục Hải quan (Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ Giám sát quản lý)
Theo tinh thần cuộc họp lần thứ 2 của Nhóm công tác về Quy tắc xuất xứ của Hiệp định thương mại tự do ASEAN - ấn Độ tại Medan (Indonesia) từ ngày 27 - 29/6/2004, các nước phải gửi quan điểm của mình về bản dự thảo Quy chế xuất xứ cho Ban Thư ký ASEAN trước ngày 15/7/2004. Bộ Thương mại xin gửi dự thảo ý kiến để Tổng cục Hải quan cho ý kiến trước khi gửi sang Ban thư ký ASEAN.
1. Về định nghĩa “nguyên vật liệu/vật tư tương tự và có thể dùng thay thế lẫn nhau” (Identical and interchangeable materials)
Định nghĩa này tương đối phức tạp và khó có thể áp dụng được trong thực tế. Đề nghị bỏ định nghĩa này (kèm theo việc bỏ Quy tắc 12 của Quy chế xuất xứ).
2. Về việc quy định tỷ lệ góp vốn của tàu đánh cá trong Quy tắc 3 (xuất xứ thuần tuý).
Thống nhất với quan điểm của ASEAN là không nên quy định chi tiết về tỷ lệ góp vốn do pháp luật mỗi nước quy định khác nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp cần nhân nhượng, thì tỷ lệ góp vốn 51% như ấn Độ đề xuất là có thể chấp nhận được.
3. Về công chức tính hàm lượng theo cách trực tiếp
Việt Nam thống nhất việc đưa công thức này vào Quy chế xuất xứ (Hiện nay ta đang dùng cách tính trực tiếp khi xác định xuất xứ mẫu D, E).
4. Về bản triplicate của C/O
Thống nhất với ấn Độ về việc bỏ quy định cơ quan hải quan nước nhập khẩu phải gửi bản triplicate cho cơ quan cấp C/O do trên thực tế quy định này không được thực hiện đầy đủ.
5. Về việc quy định miễn CO cho hàng có giá trị dưới 200 USD.
Quy định này tạo thuận lợi cho thương mại nên cần giữ lại.
6. Về đề xuất của ấn Độ liên quan tới Quy tắc 16, 21 và 22 của Thủ tục chứng nhận (Operational Certification Procedures).
Các quy định hiện hành của Quy tắc 16, 21 và 22 là đủ. Đề xuất của ấn Độ đi quá sâu vào chi tiết, nên không cần thiết và không phù hợp.
Văn bản tham gia ý kiến xin gửi về Bộ Thương mại (Vụ Xuất nhập khẩu - Điện thoại: 8262538 máy lẻ 1154, Fax 8264696, E-mail: co@mot.gov.vn) trước ngày 9/7/2004 để Bộ Thương mại kịp tổng hợp và gửi cho Ban Thư ký ASEAN.
Rất mong nhận được sự hợp tác của quý Tổng cục.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI |
Công văn số 3549/TM-XNK ngày 07/07/2004 của Bộ Thương mại về việc quy chế xuất xứ ASEAN-ấn độ
- Số hiệu: 3549/TM-XNK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 07/07/2004
- Nơi ban hành: Bộ Thương mại
- Người ký: Nguyễn Đức Thanh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/07/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
