Tóm tắt Công văn số 3300 TCT/NV6 về việc xác định doanh thu thu hộ
Công văn số 3300 TCT/NV6 được Tổng cục Thuế ban hành ngày 12/09/2003 nhằm hướng dẫn các cơ quan thuế địa phương và doanh nghiệp thống nhất thực hiện chính sách thuế đối với các khoản doanh thu thu hộ. Đây là văn bản pháp lý quan trọng giải quyết các vướng mắc liên quan đến nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với dòng tiền thu hộ, chi hộ.
1. Nguyên tắc xác định khoản thu hộ không tính vào doanh thu tính thuế
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, các khoản tiền mà doanh nghiệp nhận được từ khách hàng nhưng thực chất là thu hộ cho một đơn vị khác sẽ không bị tính vào doanh thu chịu thuế của doanh nghiệp nhận thu hộ, cụ thể:
- Các khoản thu hộ theo thỏa thuận, hợp đồng ủy quyền giữa các bên không mang tính chất doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của chính doanh nghiệp nhận thu hộ.
- Doanh nghiệp nhận thu hộ không phải kê khai, nộp thuế GTGT và thuế TNDN đối với phần dòng tiền thu hộ này khi thực hiện chuyển trả toàn bộ cho đơn vị thụ hưởng thực tế.
- Quy định này giúp doanh nghiệp tránh được việc bị đánh thuế trùng hai lần trên cùng một lượng doanh thu thực tế phát sinh của đơn vị ủy quyền.
2. Điều kiện về chứng từ và hạch toán kế toán đối với khoản thu hộ
Để được thừa nhận là khoản thu hộ không tính thuế, doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ về mặt hồ sơ pháp lý và hạch toán kế toán:
- Hợp đồng ủy quyền rõ ràng: Phải có văn bản thỏa thuận hoặc hợp đồng ủy quyền thu hộ, chi hộ được ký kết hợp pháp giữa bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền, trong đó quy định rõ quyền lợi, nghĩa vụ và nội dung thu hộ.
- Hạch toán kế toán riêng biệt: Doanh nghiệp nhận thu hộ phải mở sổ sách kế toán theo dõi riêng biệt các khoản thu hộ, chi hộ trên các tài khoản công nợ (như tài khoản phải trả khác), tuyệt đối không được hạch toán chung vào tài khoản doanh thu hay chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
- Chứng từ thu chi hợp lệ: Khi thực hiện thu tiền hộ, doanh nghiệp phải lập chứng từ thu tiền (phiếu thu) hoặc hóa đơn theo đúng quy định, ghi rõ nội dung là thu hộ cho bên thứ ba. Khi chuyển trả tiền cho bên ủy quyền, phải có chứng từ chuyển tiền hoặc phiếu chi tương ứng.
3. Nghĩa vụ thuế đối với phí dịch vụ thu hộ được hưởng
Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp thực hiện thu hộ sẽ được hưởng một khoản phí dịch vụ hoặc hoa hồng từ bên ủy quyền. Tổng cục Thuế hướng dẫn xử lý thuế đối với khoản phí này như sau:
- Khoản phí dịch vụ hoặc hoa hồng được hưởng từ hoạt động thu hộ là doanh thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ của chính doanh nghiệp nhận thu hộ.
- Doanh nghiệp phải lập hóa đơn GTGT cho phần phí dịch vụ hoặc hoa hồng này, thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT và thuế TNDN theo đúng mức thuế suất quy định hiện hành.
- Chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến việc thực hiện dịch vụ thu hộ (nếu có và có đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ) sẽ được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN của doanh nghiệp.
Tóm lại, Công văn số 3300 TCT/NV6 đã tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng, giúp doanh nghiệp phân biệt minh bạch giữa doanh thu hoạt động kinh doanh thông thường và các khoản thu hộ mang tính chất trung gian, từ đó thực hiện đúng nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số 3300 TCT/NV6 | Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2003
|
| Kính gửi: | - Công ty TNHH Đức Minh |
Trả lời công văn số 030901/CV-DM ngày 03 tháng 9 năm 2003 của Công ty TNHH Đức Minh hỏi về việc tính vào doanh thu tính thuế của Công ty khoản tiền cước vận tải quốc tế thu hộ, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Ngày 27 tháng 10 năm 2000 Tổng cục Thuế đã có công văn số 4816 TCT/NV6 trả lời về chính sách thuế trong trường hợp Công ty TNHH Đức Minh làm đại diện cho Tập đoàn Fritz có trụ sở tại Thái Lan, trong công văn đã nêu: “... Đối với những lô hàng phải thu hộ tiền cước vận chuyển quốc tế thì Công ty sử dụng hoá đơn GTGT nhưng dòng thuế suất và tiền thuế GTGT không ghi và gạch chéo; hoá đơn sử dụng để thu hộ là hoá đơn dùng để thanh toán với tập đoàn Fritz...”
Nay Tổng cục Thuế giải thích thêm như sau: Khoản “thu hộ tiền cước vận chuyển quốc tế” cho Tập đoàn Fritz không phải là doanh thu kinh doanh của Công ty Đức Minh, do đó không tính thuế GTGT và tính thuế TNDN của Công ty Đức Minh chỉ bao gồm hoa hồng (hoặc chi phí uỷ thác) do Tập đoàn Fritz trả cho hoặc kinh doanh được Tập đoàn Fritz uỷ thác và các hoạt động khác (nếu có). Tạm thời Công ty TNHH Đức Minh chưa phải kê khai nộp thuế thay cho tập đoàn Fritz đối với khoản thu hộ tiền cước vận chuyển quốc tế nêu trên nhưng phải có trách nhiệm khai báo cụ thể với cơ quan thuế quản lý để cơ quan thuế kiểm soát được toàn bộ hoạt động thu chi của Công ty.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty TNHH Đức Minh được biết và thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 3300 TCT/NV6 ngày 12/09/2003 của Tổng cục thuế về việc doanh thu thu hộ
- Số hiệu: 3300 TCT/NV6
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 12/09/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 12/09/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
