Công văn số 3222/TCT/NV2 được Tổng cục Thuế ban hành ngày 05/09/2003 nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT). Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các cơ quan thuế địa phương và doanh nghiệp tháo gỡ những khó khăn về thủ tục, hồ sơ và điều kiện hoàn thuế, đặc biệt là đối với hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng hướng dẫn hoàn thuế GTGT
Văn bản tập trung giải quyết các vướng mắc liên quan đến hồ sơ hoàn thuế GTGT cho các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu, các dự án đầu tư mới và các trường hợp âm thuế kéo dài. Nội dung hướng dẫn hướng tới việc thống nhất quy trình kiểm tra, xác minh và quyết định hoàn thuế giữa các cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm đảm bảo tính đồng bộ và đúng pháp luật.
Các nội dung giải quyết vướng mắc cốt lõi về hoàn thuế GTGT
- Điều kiện về chứng từ thanh toán qua ngân hàng: Hướng dẫn chi tiết việc kiểm tra các chứng từ thanh toán đối với hàng hóa xuất khẩu. Trong trường hợp phía nước ngoài thanh toán chậm hoặc có sự khác biệt về thông tin trên chứng từ thanh toán so với hợp đồng, doanh nghiệp phải giải trình và cung cấp các tài liệu bổ sung hợp pháp để chứng minh tính trung thực của giao dịch xuất khẩu.
- Xử lý vướng mắc về hóa đơn, chứng từ đầu vào: Đối với các hóa đơn GTGT đầu vào có sai sót nhỏ về mặt hình thức nhưng không ảnh hưởng đến bản chất giao dịch và số thuế phải nộp, cơ quan thuế xem xét tạo điều kiện cho doanh nghiệp giải trình, bổ sung thông tin để được khấu trừ hoặc hoàn thuế theo quy định.
- Xác minh nguồn gốc hàng hóa xuất khẩu: Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc phối hợp với cơ quan hải quan và các cơ quan liên quan để xác minh tính hợp pháp của nguồn gốc hàng hóa. Việc này nhằm ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, lập hồ sơ khống để trục lợi tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước.
- Thủ tục và thời hạn giải quyết hồ sơ: Yêu cầu các cục thuế địa phương đẩy nhanh tiến độ kiểm tra hồ sơ hoàn thuế, phân loại rõ ràng các hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước kiểm tra sau và kiểm tra trước hoàn thuế sau để rút ngắn thời gian chờ đợi, hỗ trợ tối đa cho dòng vốn của doanh nghiệp.
Ý nghĩa và tác động của văn bản đối với doanh nghiệp và cơ quan quản lý
- Đối với doanh nghiệp: Giúp tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn về dòng vốn do chậm hoàn thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu phát triển ổn định, đúng pháp luật.
- Đối với cơ quan thuế: Tăng cường tính minh bạch, thống nhất trong việc áp dụng pháp luật thuế trên toàn quốc, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác quản lý, phòng chống thất thu ngân sách nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số 3222 TCT/NV2 | Hà Nội, ngày 05 tháng 09 năm 2003
|
Kính gửi: Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX
Trả lời công văn số 1256 INT/TCKT ngày 22 tháng 7 năm 2003 của Công ty Xuất nhập khẩu INTMEX về việc “xin giải quyết những vướng mắc về chứng từ hoàn thuế GTGT”, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
1 Do việc Hải quan tính và thu lệ phí hải quan khi doanh nghiệp tiến hành mở Tờ khai hải quan, khi đơn vị bán hàng vận chuyển hàng đến và giao hàng, Công ty nhận hàng đề nghị Hải quan làm thủ tục kiểm hoá để xuất hàng. Như vậy đơn vị bán hàng giao hàng và xuất hoá đơn GTGT cho Công ty sau ngày nộp lệ phí Hải quan. Căn cứ vào tình hình thực tế của quá trình giao nhận hàng và thời hạn làm thủ tục xuất khẩu, Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX được hoàn thuế GTGT đầu vào của các lô hàng mà ngày ghi trên hoá đơn GTGT đầu vào sau ngày nộp lệ phí Hải quan. Nếu hàng hoá xuất khẩu của Công ty đảm bảo đủ các thủ tục và Điều kiện quy định tại Điểm 1.1, Mục III Thông tư số 82/2002/TT-BTC ngày 18/9/2002 của Bộ Tài chính.
2. Trường hợp, hàng của Công ty đã được xuất giao vào kho do khách hàng ngoại thuê tại Việt Nam, đã hoàn thiện bộ chứng từ giao nhận hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán đủ tiền mua hàng cho Công ty qua ngân hàng. Nhưng do số hàng hoá vẫn còn trong kho tại Việt Nam chưa được cơ quan Hải quan làm thủ tục xuất hàng và chứng thực là hàng đã thực xuất thì Công ty chưa được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào của lô hàng trên. Công ty chỉ được kê khai khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào khi hàng hoá xuất khẩu đã hoàn tất thủ tục Hải quan và đảm bảo đủ các thủ tục và Điều kiện quy định tại Điểm 1.1, Mục III Thông tư số 82/2002/TT-BTC ngày 18 tháng 9 năm 2002 của Bộ Tài chính để hàng hoá xuất khẩu được áp dụng thuế suất GTGT 0%.
3. Về việc Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX được nhận số tiền bồi hoàn của Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam do tổn thất của 6 container bột giặt xuất sang Iraq. Khi nhận tiền bồi thường của Bảo hiểm, Công ty không phải viết hoá cho Tổng Công ty Bảo hiểm. Mặt khác số hàng trên cũng chưa được coi là hàng đã xuất khẩu. Công ty không được hoàn thuế GTGT đầu vào của số hàng tổn thất trên mà hạch toán vào chi phí của lô hàng khi tính toán kết quả kinh doanh của đơn vị.
Tổng cục thuế trả lời để Công ty Xuất nhập khẩu INTIMEX được biết và thực hiện.
|
| KT/TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 3222/TCT/NV2 ngày 05/09/2003 của Tổng cục thuế về việc vướng mắc hoàn thuế GTGT
- Số hiệu: 3222/TCT/NV2
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 05/09/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 05/09/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
