Giới thiệu về Công văn số 3217/TCT-PCCS
Công văn số 3217/TCT-PCCS được ban hành bởi Tổng cục Thuế nhằm hướng dẫn các cục thuế địa phương và doanh nghiệp thống nhất thực hiện các quy định về chứng từ thanh toán đối với hàng hóa xuất khẩu. Đây là văn bản nghiệp vụ quan trọng làm cơ sở để xem xét, giải quyết quyền lợi khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) cho các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh xuất khẩu.
Các nội dung cốt lõi về chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu
Văn bản tập trung làm rõ các điều kiện và nguyên tắc xác định tính hợp lệ của chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu, cụ thể như sau:
- Nguyên tắc thanh toán qua ngân hàng: Để được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% và được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào, doanh nghiệp xuất khẩu bắt buộc phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Tiền thanh toán của phía nước ngoài phải được chuyển từ tài khoản của khách hàng nước ngoài mở tại ngân hàng nước ngoài vào tài khoản của doanh nghiệp Việt Nam mở tại ngân hàng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
- Sự thống nhất của thông tin trên hồ sơ: Các thông tin về tên người chuyển tiền, số tài khoản chuyển, tên người nhận tiền và số tài khoản nhận trên chứng từ thanh toán (giấy báo Có của ngân hàng) phải hoàn toàn trùng khớp với các thông tin đã thỏa thuận trong hợp đồng xuất khẩu và hóa đơn thương mại.
- Quy định đối với trường hợp thanh toán qua bên thứ ba: Trường hợp phía nước ngoài ủy quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán, hoặc thanh toán bằng hình thức bù trừ công nợ, doanh nghiệp phải có văn bản thỏa thuận rõ ràng (hợp đồng ba bên hoặc phụ lục hợp đồng) quy định về hình thức thanh toán này. Việc thanh toán qua bên thứ ba phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý ngoại hối của Nhà nước Việt Nam.
- Xử lý các trường hợp không đủ điều kiện: Các lô hàng xuất khẩu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng hợp lệ, hoặc thanh toán bằng tiền mặt không đúng quy định pháp luật sẽ không được áp dụng mức thuế suất 0% để hoàn thuế GTGT. Doanh nghiệp chỉ được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện khác, nhưng không được hoàn thuế GTGT đầu vào tương ứng với phần doanh thu này.
Ý nghĩa thực tiễn đối với doanh nghiệp xuất khẩu
Hướng dẫn tại Công văn số 3217/TCT-PCCS giúp doanh nghiệp chủ động kiểm soát rủi ro pháp lý trong quá trình giao dịch quốc tế:
- Chặt chẽ trong khâu ký kết hợp đồng: Doanh nghiệp cần quy định chi tiết, rõ ràng các điều khoản thanh toán, thông tin tài khoản ngân hàng của các bên và các trường hợp phát sinh thanh toán hộ hoặc bù trừ công nợ ngay trong hợp đồng thương mại.
- Hoàn thiện hồ sơ hoàn thuế: Đảm bảo sự đồng bộ, nhất quán giữa tờ khai hải quan, hợp đồng xuất khẩu, hóa đơn và chứng từ báo Có của ngân hàng để quá trình thanh tra, kiểm tra thuế diễn ra thuận lợi, tránh bị xuất toán hoặc từ chối hoàn thuế GTGT.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3217/TCT-PCCS | Hà Nội, ngày 30 tháng 08 năm 2006 |
Kính gửi: Chi nhánh công ty du lịch lâm nghiệp và du lịch
Trả lời công văn số 159/CT-KTTC/CV ngày 13/06/2006 của Chi nhánh Công ty du lịch Lâm nghiệp và Du lịch trong việc vướng mắc về chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Tiết d, Điểm 1.2, Mục III, Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi Tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế GTGT quy định một trong các Điều kiện phải đảm bảo hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào:
"Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng". Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ ngân hàng của bên nhập khẩu sang ngân hàng của bên xuất khẩu để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho bên xuất khẩu theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ là giấy báo Có của ngân hàng bên xuất khẩu và số tiền đã nhận được từ tài Khoản của ngân hàng bên nhập khẩu.
Căn cứ quy định trên, trường hợp Chi nhánh Công ty du lịch Lâm nghiệp và Du lịch ký hợp đồng bán hàng hóa với khách hàng Trung Quốc, khách hàng Trung Quốc thông qua ngân hàng của mình rút tiền mặt thanh toán ngay cho Chi nhánh mỗi khi nhận hàng (thanh toán bằng tiền mặt), phương thức thanh toán cho lô hàng xuất khẩu mà Chi nhánh Công ty thực hiện với khách hàng Trung Quốc không đáp ứng quy định tại Tiết d, Điểm 1.2, Mục III, phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC nêu trên để được khấu trừ và hoàn thuế GTGT. Vì vậy, Chi nhánh Công ty du lịch Lâm nghiệp và Du lịch không phải tính thuế đầu ra cho lô hàng xuất khẩu này, nhưng không được khấu trừ/hoàn thuế GTGT đầu vào. Số thuế GTGT đầu vào này được tính vào chi phí sản xuất kinh doanh.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty du lịch Lâm nghiệp và Du lịch biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 3217/TCT-PCCS của Tổng cục Thuế về việc chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu
- Số hiệu: 3217/TCT-PCCS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 30/08/2006
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 30/08/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
