Tóm tắt Công văn số 3179/TCHQ-KTTT về việc truy thu thuế giá trị gia tăng (GTGT)
Công văn số 3179/TCHQ-KTTT được ban hành ngày 12/07/2004 bởi Tổng cục Hải quan nhằm hướng dẫn và giải quyết các vướng mắc liên quan đến công tác truy thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng hóa nhập khẩu. Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng đối với các Cục Hải quan tỉnh, thành phố trong việc quản lý thu thuế và chống thất thu ngân sách nhà nước.
Các nội dung trọng tâm của Công văn số 3179/TCHQ-KTTT:
- Đối tượng và phạm vi áp dụng: Văn bản hướng dẫn trực tiếp các cơ quan hải quan địa phương và các doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu hàng hóa thuộc diện phải truy thu thuế GTGT do áp dụng sai thuế suất, phân loại mã số hàng hóa chưa chính xác hoặc do các nguyên nhân khách quan, chủ quan khác dẫn đến thiếu hụt số thuế phải nộp.
- Nguyên tắc thực hiện truy thu thuế GTGT: Việc truy thu thuế phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, đúng quy định của pháp luật về thuế GTGT và pháp luật hải quan tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan. Cơ quan hải quan có trách nhiệm rà soát, đối chiếu hồ sơ gốc để xác định chính xác số thuế GTGT còn thiếu.
- Quy trình phối hợp giữa các cơ quan quản lý: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan và cơ quan Thuế địa phương trong việc xác minh thông tin khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT của doanh nghiệp nhằm tránh việc trùng lặp hoặc bỏ sót đối tượng truy thu.
- Biện pháp xử lý đối với các trường hợp chậm nộp: Hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính, phạt chậm nộp đối với các tổ chức, cá nhân cố tình trì hoãn hoặc không thực hiện nghĩa vụ nộp đủ số thuế GTGT truy thu vào ngân sách nhà nước theo đúng thời hạn quy định.
Ý nghĩa và tác động của văn bản đối với công tác quản lý thuế:
Công văn số 3179/TCHQ-KTTT đóng vai trò thiết thực trong việc thống nhất quy trình nghiệp vụ hải quan trên toàn quốc, hạn chế tối đa các sai sót trong khâu tính thuế và thu thuế GTGT hàng nhập khẩu. Đồng thời, văn bản này cũng tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế khi thực hiện đúng các nghĩa vụ tài chính, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan và thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3179 TCHQ/KTTT | Hà Nội, ngày 12 tháng 7 năm 2004 |
Kính gửi: Cục Hải quan các tỉnh, thành phố
Tổng cục Hải quan nhận được phản ánh của một số Cục Hải quan địa phương vướng mắc trong việc thực hiện truy thu thuế giá trị gia tăng (GTGT) và xử phạt vi phạm hành chính đối với hàng là nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu sau đó đem bán hoặc xuất dùng vào mục đích khác theo hướng dẫn tại Thông tư 120/2003/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính; để thực hiện thống nhất, Tổng cục Thuế hướng dẫn rõ thêm như sau:
1. Về truy thu thuế GTGT:
Theo hướng dẫn tại điểm 3, Mục II, Phần C Thông tư 120/2003/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT thì đối với hàng hoá nhập khẩu thuộc diện không phải nộp thuế GTGT khi nhập khẩu như nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu... nếu đem bán hoặc xuất dùng vào mục đích khác phải kê khai nộp thuế với cơ quan thuế trực tiếp quản lý cơ sở như quy định đối với hàng hoá do cơ sở kinh doanh.
Thực hiện theo quy định này được hiểu: nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT; nếu đem bán hoặc xuất dùng vào mục đích khác, doanh nghiệp phải kê khai, nộp thuế GTGT với cơ quan thuế nội địa như hàng hoá do doanh nghiệp kinh doanh. Cơ quan Hải quan không thực hiện truy thu thuế GTGT trong trường hợp này, tuy nhiên để hạn chế tối đa việc doanh nghiệp cố tình không kê khai, nộp thuế GTGT, cơ quan Hải quan phải thông báo cho cơ quan thuế nội địa biết để kiểm tra, thực hiện truy thu thuế GTGT và xử lý vi phạm về thuế theo đúng quy định hiện hành.
2. Về xử lý vi phạm về thuế GTGT
Theo hướng dẫn tại điểm 3, Mục I, Phân E Thông tư 120/2003/TT-BTC nêu trên thì trường hợp các doanh nghiệp nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu nhưng không xuất khẩu, đem bán hoặc xuất dùng vào mục đích khác mà không thông báo với cơ quan Hải quan, không kê khai nộp thuế GTGT với cơ quan thuế nội địa là hành vi gian lận trốn thuế, tuỳ theo mức độ vi phạm, ngoài việc phải thu đủ thuế GTGT còn bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định tại Nghị định 100/2004/NĐ-CP ngày 25 tháng 02 năm 2004 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế hoặc xử lý vi phạm về thuế quy định tại điểm 3, Mục I, Phần E Thông tư 120/2003/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính.
Về thẩm quyền xử lý vi phạm về thuế: tại điểm 1, mục II, phần E Thông tư 120/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn: Thủ trưởng cơ quan thuế trực tiếp quản lý thu thuế được quyền xử lý đối với các vi phạm của đối tượng nộp thuế quy định tại điểm 1, điểm 2 và xử phạt vi phạm hành chính về thuế quy định tại điểm 3, Mục I, Phần E của Thông tư này.
Vì vậy, trong các trường hợp cơ quan Hải quan không thu thuế GTGT mà thông báo cho cơ quan thuế nội địa biết để thực hiện thu thuế GTGT thì thẩm quyền xử lý vi phạm về thuế GTGT là cơ quan thuế nội địa.
Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan các tỉnh, thành phố biết và chỉ đạo thống nhất việc thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN |
Công văn số 3179 TCHQ/KTTT ngày 12/07/2004 của Tổng cục Hải quan về việc truy thu thuế GTGT
- Số hiệu: 3179TCHQ/KTTT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 12/07/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Đặng Thị Bình An
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 12/07/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
