Tóm tắt Công văn số 3178 TCT/NV6 về việc hạch toán tiền ứng trước
Công văn số 3178 TCT/NV6 được ban hành bởi Tổng cục Thuế ngày 01/09/2003 hướng dẫn chi tiết về nguyên tắc hạch toán kế toán và nghĩa vụ thuế đối với các khoản tiền ứng trước từ khách hàng. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp doanh nghiệp phân biệt rõ giữa khoản doanh thu nhận trước và tiền ứng trước của khách hàng để thực hiện nghĩa vụ thuế đúng quy định.
Các nội dung trọng tâm của Công văn số 3178 TCT/NV6:
- Nguyên tắc hạch toán tiền ứng trước của khách hàng
- Khoản tiền khách hàng ứng trước (hoặc trả trước) cho doanh nghiệp để mua hàng hóa, dịch vụ trong tương lai không được ghi nhận ngay vào doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tại thời điểm nhận tiền.
- Về mặt kế toán, khoản tiền này được hạch toán vào tài khoản phải thu khách hàng (bên Có tài khoản 131 - Phải thu của khách hàng) để theo dõi như một khoản nợ phải trả (nghĩa vụ phải giao hàng hóa hoặc thực hiện dịch vụ cho khách hàng).
- Doanh nghiệp chỉ được phép chuyển khoản tiền ứng trước này thành doanh thu khi đã thực hiện bàn giao hàng hóa, hoàn thành dịch vụ và được khách hàng ký nghiệm thu, chấp nhận thanh toán.
- Quy định về nghĩa vụ thuế Giá trị gia tăng (GTGT) đối với tiền ứng trước
- Tại thời điểm nhận tiền ứng trước của khách hàng, nếu doanh nghiệp chưa thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa hoặc chưa hoàn thành việc cung ứng dịch vụ thì chưa phát sinh hoạt động mua bán thực tế. Do đó, doanh nghiệp chưa phải lập hóa đơn GTGT và chưa phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với khoản tiền ứng trước này (trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định riêng của pháp luật thuế đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt hoặc kinh doanh bất động sản có tiến độ thanh toán cụ thể).
- Khi thực tế giao hàng hoặc hoàn thành dịch vụ, doanh nghiệp bắt buộc phải lập hóa đơn GTGT cho toàn bộ giá trị hàng hóa, dịch vụ cung cấp và thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định hiện hành.
- Quy định về thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN)
- Khoản tiền ứng trước không được tính vào doanh thu để xác định thu nhập chịu thuế TNDN trong kỳ tính thuế nhận tiền nếu hàng hóa, dịch vụ chưa được chuyển giao.
- Doanh thu tính thuế TNDN chỉ được xác định khi có đủ các điều kiện ghi nhận doanh thu theo quy định của pháp luật về thuế TNDN và chuẩn mực kế toán Việt Nam, cụ thể là khi phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa đã được chuyển giao cho người mua, hoặc dịch vụ đã được thực hiện hoàn thành.
- Trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương
- Doanh nghiệp có trách nhiệm mở sổ sách kế toán chi tiết, theo dõi chặt chẽ từng khoản tiền ứng trước của từng khách hàng, tránh việc lạm dụng tài khoản ứng trước để trì hoãn việc ghi nhận doanh thu và trốn thuế.
- Cơ quan thuế địa phương có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra việc hạch toán các khoản tiền ứng trước tại doanh nghiệp, đối chiếu với tiến độ thực hiện hợp đồng, biên bản bàn giao, nghiệm thu để đảm bảo doanh nghiệp kê khai thuế đúng thời điểm và đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3178 TCT/NV6 | Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 2003 |
| Kính gửi: | Công ty cổ phần Trường Thọ |
Trả lời công văn số 195/CV-TT-03 ngày 14 tháng 7 năm 2003 của Công ty hỏi về việc hạch toán khoản tiền ứng trước đã xuất hoá đơn GTGT, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ vào các văn bản hướng dẫn thi hành Luật thuế Giá trị gia tăng; Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp; Pháp lệnh kế toán thống kê; và các văn bản pháp luật quy định về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn;
- Về nguyên tắc: Công ty không phải xuất hoá đơn GTGT, không phải kê khai nộp thuế GTGT, thuế TNDN đối với khoản tiền tạm ứng của khách hàng cho Công ty ngay sau khi ký hợp đồng thi công xây lắp vì chưa có công trình. hạng mục công trình hoàn thành bàn giao. Mặt khác khoản tiền tạm ứng này:
+ Không được ghi nhận là doanh thu bán hàng hoá vì chưa thoả mãn 5 (năm) điều kiện để xác định doanh thu bán hàng hoá.
+ Và cũng không được hạch toán vào TK 3387 - Doanh thu nhận trước - vì theo phần giải thích nội dung TK 3387 thì: “... Không hạch toán vào tài khoản này số tiền nhận trước của người mua mà đơn vị chưa cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ.”
- Tuy nhiên do thực tế Công ty đã xuất hoá đơn GTGT đối với khoản tiền tạm ứng của khách hàng sau khi ký hợp đồng thì có thể xử lý như sau:
+ Hoặc Công ty cùng khách hàng (chủ đầu tư) lập biên bản thu hồi hoá đơn vì đây là trường hợp hoá đơn xuất không đúng quy định, biên bản phải có đủ chữ ký xác nhận và dấu của cả hai bên. Sau khi thu hồi hoá đơn thì gạch chéo để huỷ bỏ và phải lưu đầy đủ các liên của số hoá đơn thu hồi. Cả Công ty và khách hàng (chủ đầu tư) phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoá đơn huỷ bỏ này.
+ Trường hợp Công ty không thu hồi lại được hoá đơn thì Công ty có thể hạch toán vào TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ và đề nghị Công ty kê khai nộp thuế GTGT, nộp thuế TNDN trên khoản tiền tạm ứng đã nhận này. Khi công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành bàn giao, nếu quyết toán có chênh lệch thì Công ty phải xuất hoá đơn bổ sung và kê khai nộp bổ sung thuế GTGT, thuế TNDN của công trình hoặc hạng mục công trình hoàn thành.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty được biết và thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 3178 TCT/NV6 ngày 01/09/2003 của Tổng cục Thuế về việc hạch toán tiền ứng trước
- Số hiệu: 3178 TCT/NV6
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 01/09/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/09/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
