Tóm tắt Công văn số 306 TCT/DNNN về việc thanh toán hàng xuất khẩu
Công văn số 306 TCT/DNNN được Tổng cục Thuế ban hành ngày 11/02/2004 nhằm giải quyết các vướng mắc và hướng dẫn chi tiết về điều kiện thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương thống nhất phương thức xác định điều kiện khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hoạt động xuất khẩu.
Các quy định cốt lõi về điều kiện thanh toán hàng xuất khẩu
Để được hưởng thuế suất thuế GTGT 0% và thực hiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào cho hàng hóa xuất khẩu, doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo quy định:
- Nguyên tắc thanh toán bắt buộc: Tiền thanh toán cho hàng hóa xuất khẩu phải được chuyển từ tài khoản của khách hàng nước ngoài mở tại ngân hàng nước ngoài vào tài khoản của doanh nghiệp Việt Nam (bên xuất khẩu) mở tại các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
- Quy định đối với trường hợp thanh toán qua bên thứ ba: Trường hợp phía nước ngoài ủy quyền cho một bên thứ ba thực hiện thanh toán, việc này phải được quy định rõ ràng bằng văn bản trong hợp đồng xuất khẩu hoặc phụ lục hợp đồng thương mại. Chứng từ thanh toán của ngân hàng phải thể hiện rõ nội dung bên thứ ba thanh toán thay cho người mua nước ngoài theo đúng thỏa thuận.
- Tính đồng bộ của hồ sơ: Các thông tin trên chứng từ thanh toán qua ngân hàng (như tên đơn vị chuyển tiền, số tiền, số hợp đồng) phải hoàn toàn trùng khớp và thống nhất với thông tin trên hợp đồng xuất khẩu, hóa đơn thương mại và tờ khai hải quan đã thông quan.
Ý nghĩa thực tiễn và lưu ý cho doanh nghiệp
Công văn 306 TCT/DNNN đóng vai trò định hướng giúp doanh nghiệp xuất khẩu hoàn thiện hồ sơ pháp lý, tránh các rủi ro bị xuất toán hoặc từ chối hoàn thuế GTGT. Doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý:
- Thiết lập các điều khoản thanh toán rõ ràng, chi tiết trong hợp đồng mua bán quốc tế, đặc biệt là khi phát sinh phương thức thanh toán phức tạp hoặc có sự tham gia của bên trung gian.
- Chủ động đối chiếu chứng từ báo Có của ngân hàng ngay khi nhận được tiền thanh toán để kịp thời phát hiện và điều chỉnh các sai lệch thông tin nếu có.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 306 TCT/DNNN | Hà Nội, ngày 11 tháng 2 năm 2004 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Đồng Nai
Trả lời công văn số 1174/CT/ĐTNN ngày 6/8/2003 của Cục thuế tỉnh Đồng Nai về việc thanh toán đối với hàng hoá xuất khẩu, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại điểm 1, Mục III, Thông tư số 82/2002/TT-BTC ngày 18/9/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 122/2000/TT-BTC này 29/12/200 hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng, công văn số 5957 TC/TCT ngày 9/6/2003 và công văn số 8282 TC/TCT ngày 12/8/2003 của Bộ Tài chính thì:
- Về thủ tục, chứng từ thanh toán bù trừ hàng xuất khẩu, nhập khẩu giữa công ty mẹ ở nước ngoài và công ty con ở Việt Nam để áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với hàng hoá xuất khẩu thực hiện theo điểm 1, 2 công văn số 5957 TC/TCT ngày 9/6/2003 của Bộ Tài chính. Nếu công ty con không đủ thủ tục, hồ sơ đã quy định thì không được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%. Trường hợp bên mua, bên bán uỷ quyền cho bên thứ 3 là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài đứng ra thanh toán hộ hàng xuất khẩu thay cho thương nhân nước ngoài thì quy định của chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu đối với trường hợp này được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm 7 công văn số 8282 TC/TCT ngày 12/8/2003 của Bộ Tài chính.
- Doanh thu hàng hoá xuất khẩu được xác định theo hoá đơn xuất cho khách hàng nhà nước và các chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu. Trường hợp tiền hành xuất khẩu được thanh toán qua ngân hàng nước ngoài nhưng ngân hàng thực hiện trừ phí thanh toán của ngân hàng trước khi chuyển tiền cho doanh nghiệp thì: nếu ngân hàng nước ngoài có quy định thống nhất và hợp đồng có đủ căn cứ xác định rõ số tiền được thanh toán chênh lệch thiếu so với hoá đơn là phí ngân hàng thì doanh số hàng xuất khẩu được xác định theo hoá đơn.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế tỉnh Đồng Nai biết và thực hiện./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 306 TCT/DNNN ngày 11/02/2004 của Tổng cục thuế về việc thanh toán hàng xuất khẩu
- Số hiệu: 306TCT/DNNN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 11/02/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 11/02/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
