Giới thiệu chung về Công văn số 3012/STP-BTTP
Công văn số 3012/STP-BTTP ngày 09/09/2004 do Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các Phòng Công chứng trên địa bàn thành phố liên quan đến thủ tục khai nhận và phân chia di sản thừa kế. Văn bản này nhằm tháo gỡ các vướng mắc thực tế, thống nhất quy trình thực hiện và đảm bảo tính pháp lý tối đa cho các giao dịch liên quan đến quyền thừa kế tài sản.
1. Phạm vi áp dụng và đối tượng điều chỉnh
Văn bản tập trung hướng dẫn các Phòng Công chứng và các cơ quan liên quan thực hiện đúng trình tự, thủ tục khi giải quyết hồ sơ khai nhận di sản thừa kế. Đối tượng áp dụng bao gồm:
- Các tổ chức hành nghề công chứng (Phòng Công chứng) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Công dân Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền, nghĩa vụ liên quan đến di sản thừa kế được mở tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc xác nhận tình trạng nhân thân, sở hữu tài sản của người để lại di sản.
2. Nguyên tắc xác định người thừa kế và giấy tờ chứng minh
Để đảm bảo việc khai nhận di sản đúng đối tượng, tránh tranh chấp phát sinh, văn bản quy định rõ các nguyên tắc xác minh nhân thân và quan hệ huyết thống, hôn nhân:
- Xác định hàng thừa kế: Người yêu cầu công chứng phải cung cấp đầy đủ giấy tờ chứng minh quan hệ với người để lại di sản (như Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn, Sổ hộ khẩu, hoặc các giấy tờ hộ tịch hợp pháp khác).
- Trường hợp khuyết người thừa kế: Đối với các trường hợp không thể liên lạc hoặc không rõ thông tin của một hoặc một số người thừa kế, văn bản hướng dẫn cụ thể về nghĩa vụ cam đoan và chịu trách nhiệm của những người thừa kế hiện diện.
- Người thừa kế ở nước ngoài: Hướng dẫn chi tiết về việc lập văn bản ủy quyền hoặc văn bản từ chối nhận di sản thừa kế được hợp pháp hóa lãnh sự theo đúng quy định pháp luật.
3. Quy trình niêm yết công khai thông tin khai nhận di sản
Niêm yết công khai là thủ tục bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba và những người thừa kế chưa xuất hiện. Quy trình này được quy định cụ thể như sau:
- Địa điểm niêm yết: Việc niêm yết phải được thực hiện tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú cuối cùng của người để lại di sản. Trường hợp di sản là bất động sản thì phải niêm yết thêm tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có bất động sản đó.
- Thời hạn niêm yết: Thông tin về việc khai nhận di sản phải được niêm yết công khai trong thời hạn luật định (thông thường là 15 ngày) để người dân và các bên liên quan biết, thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo hoặc tranh chấp nếu có.
- Xác nhận kết quả niêm yết: Sau khi hết thời hạn niêm yết, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi niêm yết có trách nhiệm xác nhận về việc có hay không có tranh chấp, khiếu nại gửi về Phòng Công chứng để làm cơ sở hoàn tất thủ tục.
4. Trách nhiệm của Công chứng viên và người yêu cầu công chứng
Văn bản phân định rõ ràng trách nhiệm pháp lý của các bên tham gia vào quá trình khai nhận di sản:
- Trách nhiệm của Công chứng viên: Phải kiểm tra, đối chiếu kỹ lưỡng tính hợp pháp, hợp lệ của các giấy tờ trong hồ sơ. Công chứng viên có quyền yêu cầu xác minh hoặc từ chối thực hiện công chứng nếu phát hiện có dấu hiệu giả mạo, gian lận hoặc tranh chấp chưa được giải quyết.
- Trách nhiệm của người khai nhận di sản: Phải cam đoan tính trung thực của các thông tin cung cấp. Mọi hành vi cố tình che giấu người thừa kế khác hoặc giả mạo giấy tờ sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật dân sự và hình sự.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số 3012/STP-BTTP | TP. Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 9 năm 2004
|
Kính gửi: Các Phòng Công chưng TP.HCM
Theo Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực thì thẩm quyền công chứng, chứng thực văn bản khai nhận di sản; văn bản từ chối nhận di sản; văn bản thoả thuận phân chia di sản thuộc thẩm quyền của cơ quan công chứng, chứng thực. Các văn bản nêu trên đã được công chứng, chứng thực là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký chuyền quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản cho người được hưởng di sản.
Tại thành phố Hồ Chí Minh từ trước đến nay, khi người dân có nhu cầu khai nhận di sản thừa kế thường liên hệ với cơ quan thuế để khai nhận di sản đồng thời thực hiện nghĩa vụ tài chính theo luật định. Đây là việc làm theo pháp luật cũ trước đây, khi Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ ra đời khi chưa kịp thời sửa đổi. Vừa qua, Cục Thuế thành phố có công văn số 6935/CT-TTHT gửi Uỷ ban nhân dân thành phố đề nghị Uỷ ban chỉ dạo một số việc liên quan đến vấn đề khai di sản thừa kế. Công văn này đã được gửi cho Chi cục thuế các quận, huyện để chấm dứt việc cho khai nhận di sản thừa kế tại cơ quan thuế.
Theo Sở Tư pháp, chỉ đạo trên đây của Cục Thuế thành phố là phù hợp quy định của pháp luật. Các Phòng Công chứng cần căn cứ Nghị định số 75/CP để thực hiện các việc liên quan đến khai di sản thừa kế, thoả thuận phân chia di sản thừa kế theo quy định. Việc xin khai nhận di sản thừa kế của nhiều người cũng là nhu cầu chính đáng của nhân dân và cơ quan công chứng, chứng thực phải tiếp nhận theo quy định tại Điều 3 của Nghị định 75/CP (hợp đồng giao dịch mà pháp luật không quy định phải công chứng, chứng thực nhưng cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu). Tuy nhiên, Nghị định 75 (Điều 53) chỉ hướng dẫn trình tự, thủ tục công chứng văn bản khai nhận di sản đối với người duy nhất được hưởng di sản theo pháp luật mà không quy định trình tự, thủ tục của việc khai nhận di sản thừa kế cho nhiều người.
Để giải quyết nhu cầu của dân, trong khi chờ chỉ đạo của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp thành phố tạm thời hướng dẫn các Phòng Công chứng vận dụng trình tự, thủ tục của việc khai nhận di sản thừa kế cho người duy nhất (Điều 53, Nghị định 75/CP), thủ tục thoả thuận phân chia di sản thừa kế (Điều 52, Nghị định 75/CP) cho trường hợp khai nhận di sản thừa kế cho nhiều người.
|
| GIÁM ĐỐC |
Công văn số 3012/STP-BTTP ngày 09/09/2004 của Uỷ ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh về việc khai nhận di sản thừa kế
- Số hiệu: 3012/STP-BTTP
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 09/09/2004
- Nơi ban hành: Thành phố Hồ Chí Minh
- Người ký: Nguyễn Đức Chính
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 09/09/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
