Tóm tắt Công văn số 2733/TCT-PC về thuế giá trị gia tăng đối với quặng sắt xuất khẩu
Công văn số 2733/TCT-PC do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng, giải quyết các vướng mắc liên quan đến chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với mặt hàng quặng sắt xuất khẩu. Đây là nhóm mặt hàng tài nguyên, khoáng sản có tính chất đặc thù, chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định về quản lý tài nguyên và chính sách thuế của Nhà nước.
Các nội dung trọng tâm của Công văn số 2733/TCT-PC:
- Xác định đối tượng và điều kiện áp dụng thuế suất thuế GTGT: Văn bản làm rõ việc áp dụng thuế suất thuế GTGT đối với mặt hàng quặng sắt khi xuất khẩu ra nước ngoài. Thông thường, hàng hóa xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% nếu đáp ứng đủ các điều kiện về hợp đồng, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt và tờ khai hải quan. Tuy nhiên, đối với quặng sắt, việc áp dụng thuế suất 0% phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định loại trừ đối với tài nguyên, khoáng sản xuất khẩu.
- Nguyên tắc áp dụng đối với tài nguyên, khoáng sản: Trường hợp quặng sắt xuất khẩu thuộc nhóm tài nguyên, khoáng sản chưa chế biến thành sản phẩm khác, hoặc là sản phẩm đã qua chế biến nhưng có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu. Ngược lại, nếu sản phẩm quặng sắt đã chế biến sâu, không thuộc trường hợp nêu trên và đáp ứng đầy đủ hồ sơ, thủ tục xuất khẩu thì mới được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%.
- Hướng dẫn kê khai và khấu trừ thuế GTGT đầu vào: Công văn hướng dẫn doanh nghiệp xuất khẩu quặng sắt cách thức phân bổ, kê khai và khấu trừ thuế GTGT đầu vào tương ứng. Đối với hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, doanh nghiệp sẽ không được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho khâu xuất khẩu này mà phải tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ý nghĩa pháp lý và lưu ý đối với doanh nghiệp:
Công văn 2733/TCT-PC giúp thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật thuế giữa cơ quan thuế các cấp và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai thác, chế biến và xuất khẩu khoáng sản. Doanh nghiệp cần chủ động rà soát, xác định chính xác tỷ lệ chi phí tài nguyên và năng lượng trong cơ cấu giá thành sản phẩm quặng sắt xuất khẩu để áp dụng đúng chính sách thuế GTGT, tránh các rủi ro pháp lý về truy thu thuế và xử phạt vi phạm hành chính.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2733/TCT-PC | Hà Nội, ngày 03 tháng 7 năm 2009 |
Kính gửi: Văn phòng luật sư AIC.
Tổng cục Thuế nhận được văn bản số 69/2009/CV-AIC ngày 24/6/2009 của Văn phòng Luật sư AIC về việc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại điểm 27, Mục II, Phần A Thông tư 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT hướng dẫn: sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên khoáng sản chưa chế biến thành sản phẩm khác, cụ thể dưới đây: dầu thô; đá phiến, cát, đất hiếm; đá quý; quặng măng gan, quặng thiếc, quặng sắt, quặng cờ-rôm-mít, quặng êmênhit, quặng a-pa-tít thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Tại Mục II, Phần A Thông tư 120/2003/TT-BTC nêu trên hướng dẫn: "Cơ sở kinh doanh không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại điều này mà phải tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh".
Tại điểm 1.27, Mục II Phần A Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 09/04/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT hướng dẫn: sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác, cụ thể dưới đây: quặng măng-gan, quặng thiếc, quặng sắt, quặng cờ-rôm-mít, quặng êmênhít, quặng a-pa-tít.
Tại điểm 2, Mục II Phần A Thông tư số 32/2007/TT-BTC nêu trên hướng dẫn: "Cơ sở kinh doanh không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng nêu tại mục II này mà phải tính vào nguyên giá tài sản cố định, giá trị nguyên vật liệu hoặc chi phí kinh doanh".
Căn cứ hướng dẫn trên, sản phẩm quặng sắt xuất khẩu mới qua công đoạn sơ chế (rửa sạch, phân loại, nghiền sàng...) để đạt được tiêu chuẩn khoáng sản xuất khẩu theo Thông tư số 02/2006/TT-BCN ngày 14/4/2006 của Bộ Công nghiệp về việc hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản và chưa được chế biến thành sản phẩm khác thì sản phẩm quặng sắt xuất khẩu này thuộc diện không chịu thuế GTGT, khi xuất khẩu không được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%, không được khấu trừ hoàn thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ sử dụng cho sản xuất kinh doanh sản phẩm quặng sắt xuất khẩu này.
Về vấn đề này, Bộ Công thương cũng đã có công văn số 4737/BCT-CNNg ngày 5/6/2008 về thuế GTGT đối với quặng sắt, trong đó xác định:
"- Khoáng sản được chế biến thô: là khoáng sản đã được biến đổi về một số tính chất vật lý (ví dụ bị đập nhỏ), loại bỏ các tạp chất, nâng cao hàm lượng các nguyên tố có ích chính trong quặng để đáp ứng một số yêu cầu sử dụng trong lĩnh vực khác như luyện kim, chế biến thành các sản phẩm khác (sản phẩm chế biến thô thường được gọi là tinh quặng).
Khoáng sản được chế biến sâu: là khoáng sản được chế biến trở thành một sản phẩm khác ví dụ như quặng sắt luyện thành gang, thép, tinh quặng đồng được luyện thành kim loại đồng,...."
Vì vậy, việc Cục thuế Hải Phòng ban hành các Quyết định thu hồi số tiền thuế đã hoàn đối với quặng sắt xuất khẩu mới qua công đoạn sơ chế, chưa được chế biến thành sản phẩm khác là đúng quy định. Trường hợp Chi nhánh công ty TNHH Thương mại Quốc tế đã có khả năng tài chính để nộp thuế GTGT khi mua quặng sắt để xuất khẩu, sau đó được Cục Thuế TP. Hải Phòng hoàn thuế GTGT khi xuất khẩu thì không thể rơi vào tình trạng "cấp thiết và cấp bách" như Văn phòng luật sư AIC đã nêu trong công văn. Do đó, lý do mà Văn phòng Luật sư AIC đề nghị Toà án nhân dân TP. Hải Phòng áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là chưa có cơ sở pháp lý và thực tiễn.
Tổng cục Thuế trả lời để Văn phòng luật sư AIC được biết và thực hiện./.
| | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 02/2006/TT-BCN hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản do Bộ Công nghiệp ban hành
- 2Thông tư 32/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP, Nghị định 148/2004/NĐ-CP và Nghị định 156/2005/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 3Thông tư 120/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
Công văn số 2733/TCT-PC về việc thuế giá trị gia tăng đối với quặng sắt xuất khẩu do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 2733/TCT-PC
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 03/07/2009
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Bùi Văn Nam
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 03/07/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
