Tổng quan về Công văn số 2697 TCT/ĐTNN
Công văn số 2697 TCT/ĐTNN được Tổng cục Thuế ban hành ngày 26/08/2004 nhằm hướng dẫn và làm rõ các quy định liên quan đến thủ tục thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa ủy thác xuất khẩu. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ thuế và được hưởng các chính sách ưu đãi về khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hoạt động xuất khẩu ủy thác.
Quy định về điều kiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng ủy thác xuất khẩu
Theo nội dung hướng dẫn, để được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% và thực hiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa ủy thác xuất khẩu, cơ sở kinh doanh phải đảm bảo đầy đủ các hồ sơ, chứng từ sau:
- Hợp đồng ủy thác xuất khẩu ký kết giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác xuất khẩu.
- Tờ khai hải quan đối với hàng hóa thực tế xuất khẩu có xác nhận thực xuất của cơ quan hải quan cửa khẩu.
- Hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn xuất khẩu xuất cho bên nhận ủy thác để thực hiện thủ tục xuất khẩu.
- Chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu qua ngân hàng theo đúng quy định.
Nguyên tắc thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa ủy thác xuất khẩu
Công văn nhấn mạnh nguyên tắc dòng tiền trong giao dịch ủy thác xuất khẩu phải được thực hiện minh bạch qua hệ thống ngân hàng để ngăn ngừa gian lận thuế:
- Khách hàng nước ngoài (bên mua) phải thực hiện chuyển tiền thanh toán tiền hàng cho bên nhận ủy thác xuất khẩu thông qua tài khoản ngân hàng của bên nhận ủy thác mở tại Việt Nam.
- Bên nhận ủy thác xuất khẩu có trách nhiệm thanh toán lại tiền hàng xuất khẩu cho bên ủy thác thông qua tài khoản ngân hàng của hai bên. Việc thanh toán bằng tiền mặt giữa bên nhận ủy thác và bên ủy thác không được chấp nhận làm căn cứ để khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT.
- Các chứng từ thanh toán qua ngân hàng phải thể hiện rõ nội dung thanh toán cho hợp đồng xuất khẩu và hợp đồng ủy thác xuất khẩu tương ứng.
Xử lý các trường hợp đặc thù trong thanh toán
Đối với các trường hợp có sự sai lệch hoặc phương thức thanh toán đặc biệt, Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể:
- Trường hợp phía nước ngoài thanh toán trực tiếp cho bên ủy thác (không qua bên nhận ủy thác): Phải có thỏa thuận rõ ràng bằng văn bản giữa ba bên (bên ủy thác, bên nhận ủy thác và khách hàng nước ngoài) và chứng từ thanh toán qua ngân hàng phải chứng minh được dòng tiền từ nước ngoài chuyển về tài khoản của bên ủy thác.
- Trường hợp bù trừ công nợ giữa các bên: Việc bù trừ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, đồng thời phải có biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận của các bên liên quan và chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với phần giá trị chênh lệch (nếu có).
Ý nghĩa và tác động của văn bản
Công văn số 2697 TCT/ĐTNN giúp thống nhất quy trình kiểm tra, giám sát của cơ quan thuế địa phương đối với hồ sơ hoàn thuế của các doanh nghiệp có hoạt động ủy thác xuất khẩu. Quy định này bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp làm ăn chân chính, đồng thời thắt chặt quản lý dòng tiền nhằm hạn chế tình trạng hoàn thuế khống, trục lợi ngân sách nhà nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2697 TCT/ĐTNN | Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 2004 |
| Kính gửi: | Công ty Quốc tế Việt Pan Pacific |
Trả lời công văn số 3107/KT-VP1/2004 ngày 31/7/2004 của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Quốc tế Việt Pan Pacific về thủ tục thanh toán của Hợp đồng uỷ thác xuất khẩu, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ theo quy định tại Điểm 5, Mục IV, phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/123/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi Tiết thi hành Luật Thuế GTGT và Luật sửa đổi, bỏ sung một số Điều của Luật thuế GTGT: Trường hợp uỷ thác xuất khẩu hàng hoá (kể cả trường hợp uỷ thác xuất khẩu hàng hoá gia công cho các cơ sở khác), khi xuất hàng giao cho cơ sở nhận uỷ thác, cơ sở đi uỷ thác sử dụng Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ do Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) phát hành kèm theo Lệnh Điều động nội bộ. Khi hàng hoá đã thực xuất khẩu có xác nhận của cơ quan hải quan căn cứ vào các chứng từ đối chiếu, xác nhận về số lượng, giá trị hàng hoá thực tế xuất khẩu của cơ sở nhận uỷ thác xuất khẩu, cơ sở có hàng hoá uỷ thác xuất khẩu lập hoá đơn GTGT để kê khai, nộp thuế, hoàn thuế GTGT.
Căn cứ theo quy định trên, Công ty đi uỷ thác không được lập hoá đơn GTGT 0% cho Công ty uỷ thác xuất khẩu, Công ty nhận uỷ thác xuất khẩu lập hoá đơn GTGT riêng để thanh toán tiền hoa hồng uỷ thác xuất khẩu.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty biết và thực hiện./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 2697 TCT/ĐTNN ngày 26/08/2004 của Tổng cục thuế về việc thanh toán hàng uỷ thác xuất khẩu
- Số hiệu: 2697TCT/ĐTNN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 26/08/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Văn Huyến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 26/08/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
