Giới thiệu chung về Công văn số 2560/LĐTBXH-LĐTL
Công văn số 2560/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành nhằm giải đáp và hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến việc chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp, cơ quan tổ chức và người lao động xác định rõ quyền lợi, trách nhiệm chi trả trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, đặc biệt trong các trường hợp chuyển đổi sở hữu, sáp nhập hoặc chia tách doanh nghiệp.
Các nội dung cốt lõi về xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
Theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, việc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được thực hiện dựa trên các nguyên tắc chặt chẽ sau:
- Thời gian làm việc thực tế: Là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động, bao gồm cả thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người lao động thuộc diện không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng được người sử dụng lao động chi trả cùng với tiền lương một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ không được tính vào thời gian để nhận trợ cấp thôi việc.
- Công thức xác định thời gian tính trợ cấp: Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc bằng tổng thời gian làm việc thực tế trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó (nếu có).
Quy định về làm tròn thời gian lẻ khi tính trợ cấp
Công văn nhấn mạnh việc xử lý đối với các khoảng thời gian lẻ không tròn năm khi tính toán trợ cấp thôi việc nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi cho người lao động:
- Trường hợp thời gian tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được làm tròn thành 1/2 năm (tương đương 0,5 năm làm việc).
- Trường hợp thời gian tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng được làm tròn thành 01 năm làm việc.
Trách nhiệm chi trả trợ cấp trong trường hợp chuyển đổi, tổ chức lại doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp thực hiện việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, trách nhiệm chi trả trợ cấp được phân định rõ ràng:
- Trách nhiệm của người sử dụng lao động kế tiếp: Người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm tiếp nhận, bố trí việc làm và thực hiện chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm cho người lao động đối với cả thời gian người lao động làm việc tại doanh nghiệp trước khi chuyển đổi, nếu thời gian đó chưa được chi trả trợ cấp.
- Nguồn kinh phí chi trả: Doanh nghiệp phải chủ động phương án sử dụng lao động và dự phòng nguồn tài chính để chi trả trợ cấp theo đúng quy định pháp luật lao động hiện hành, tránh phát sinh tranh chấp lao động tập thể hoặc cá nhân.
Ý nghĩa pháp lý và lưu ý khi áp dụng thực tế
Công văn số 2560/LĐTBXH-LĐTL đóng vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng giúp thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật giữa cơ quan quản lý nhà nước về lao động tại địa phương và các doanh nghiệp. Khi áp dụng, các bên cần lưu ý đối chiếu kỹ lưỡng mốc thời gian bắt đầu tham gia bảo hiểm thất nghiệp (từ ngày 01/01/2009) để khấu trừ chính xác thời gian tính trợ cấp, đảm bảo tính tuân thủ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2560/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 20 tháng 07 năm 2009 |
| Kính gửi: | Công ty Trách nhiệm hữu hạn PUNGKOOK Sài Gòn |
Trả lời công văn ngày 14/5/2009 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn PUNGKOOK Sài Gòn về việc trả trợ cấp thôi việc, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1/ Theo Điều 42 Bộ luật Lao động (đã sửa đổi, bổ sung năm 2006) quy định: khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có). Như vậy, người lao động trong ví dụ nêu tại công văn của quý Công ty thuộc đối tượng hưởng trợ cấp thôi việc.
Trường hợp người lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp đủ 12 tháng trở lên, trong đó vừa có thời gian làm việc mà không tham gia bảo hiểm thất nghiệp, vừa có thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp, khi thôi việc được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH ngày 26/5/2009 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số Điều của Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ về hợp đồng lao động, đồng thời được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đủ Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp (hoặc được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp nếu chưa đủ Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp) theo quy định tại Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ và Thông tư hướng dẫn số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 21/01/2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
Đối với trường hợp người lao động nêu tại công văn của quý Công ty có tổng thời gian làm việc tại doanh nghiệp đủ 12 tháng, trong đó có 10 tháng không tham gia bảo hiểm thất nghiệp (01/02/2008 – 31/12/2008) được làm tròn thành 01 năm và được hưởng trợ cấp thôi việc là 1/2 tháng lương của mức tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 2 Thông tư số 17/2009/TT-BLĐTBXH nêu trên của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. 2 tháng còn lại (01/01/2009 – 31/02/2009) là thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa đủ Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, tuy nhiên người lao động được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp (02 tháng) và được cộng dồn để tính thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp làm căn cứ tính hưởng trợ cấp thất nghiệp khi mất việc hoặc thôi việc lần sau theo quy định.
2/ Theo quy định tại Khoản 2, Điều 14 Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ về hợp đồng lao động thì nguồn kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc được hạch toán vào giá thành hoặc phí lưu thông của doanh nghiệp.
Đề nghị Công ty thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1Bộ Luật lao động sửa đổi 2006
- 2Bộ luật Lao động 1994
- 3Nghị định 44/2003/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ Luật lao động về hợp đồng lao động
- 4Nghị định 127/2008/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp
- 5Thông tư 04/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 127/2008/NĐ-CP hướng dẫn một số điều Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 6Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Nghị định 44/2003/NĐ-CP về hợp đồng lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 7Công văn 2451/LĐTBXH-LĐTL về trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
Công văn số 2560/LĐTBXH-LĐTL về việc trả trợ cấp thôi việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- Số hiệu: 2560/LĐTBXH-LĐTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/07/2009
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Tống Thị Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/07/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
