Giới thiệu chung về Công văn số 2415/BNV-TL
Công văn số 2415/BNV-TL do Bộ Nội vụ ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng liên quan đến chế độ trả lương làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Văn bản này nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật về lao động, tiền lương, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người lao động khi thực hiện nhiệm vụ ngoài giờ hành chính.
1. Đối tượng áp dụng chế độ trả lương làm thêm giờ
Theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ, các đối tượng được hưởng chế độ tiền lương làm thêm giờ bao gồm:
- Cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp xã.
- Viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước.
- Người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
2. Điều kiện để được thanh toán tiền lương làm thêm giờ
Để được chi trả tiền lương làm thêm giờ, cán bộ, công chức, viên chức phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ sau:
- Có văn bản phân công hoặc phê duyệt kế hoạch làm thêm giờ của thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền.
- Làm việc ngoài giờ hành chính quy định để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn được giao mà không thể hoàn thành trong giờ làm việc định mức.
- Có bảng chấm công làm thêm giờ thực tế được xác nhận bởi người quản lý trực tiếp và bộ phận tổ chức cán bộ.
- Không thuộc trường hợp được bố trí nghỉ bù sau khi làm thêm giờ. Nếu đã bố trí nghỉ bù thì không thanh toán tiền lương làm thêm giờ.
3. Nguyên tắc và giới hạn thời gian làm thêm giờ
Văn bản nhấn mạnh việc quản lý thời gian làm thêm giờ phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc của Bộ luật Lao động:
- Số giờ làm thêm của người lao động không được vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày.
- Tổng số giờ làm thêm không quá 30 giờ trong 01 tháng và không quá 200 giờ trong 01 năm.
- Đối với các trường hợp đặc biệt được pháp luật cho phép, tổng số giờ làm thêm không được vượt quá 300 giờ trong 01 năm và phải được sự đồng ý của người lao động.
- Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm sắp xếp công việc khoa học, hạn chế tối đa việc tổ chức làm thêm giờ nếu không thực sự cần thiết nhằm bảo vệ sức khỏe cho cán bộ, công chức, viên chức.
4. Phương pháp tính tiền lương làm thêm giờ
Tiền lương làm thêm giờ được xác định dựa trên tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường và áp dụng các mức hệ số lũy tiến tùy thuộc vào thời điểm làm thêm:
- Làm thêm giờ vào ngày thường: Được trả tiền lương ít nhất bằng 150% mức lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường.
- Làm thêm giờ vào ngày nghỉ hằng tuần: Được trả tiền lương ít nhất bằng 200% mức lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường.
- Làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương: Được trả tiền lương ít nhất bằng 300% mức lương giờ thực trả, chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày.
- Làm thêm giờ vào ban đêm: Người lao động làm việc vào ban đêm thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường. Nếu làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định làm thêm giờ và làm đêm, người lao động còn được trả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày của ngày làm việc bình thường hoặc của ngày nghỉ hằng tuần, ngày nghỉ lễ, tết.
5. Nguồn kinh phí chi trả và trách nhiệm quản lý
Bộ Nội vụ hướng dẫn cụ thể về nguồn kinh phí và trách nhiệm của các đơn vị sử dụng lao động:
- Nguồn kinh phí: Kinh phí chi trả tiền lương làm thêm giờ được bố trí trong nguồn kinh phí tự chủ, kinh phí hoạt động thường xuyên của cơ quan, đơn vị theo quy chế chi tiêu nội bộ.
- Trách nhiệm của thủ trưởng đơn vị: Phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ rõ ràng, trong đó quy định cụ thể về định mức, quy trình phê duyệt và thanh toán tiền lương làm thêm giờ. Nghiêm cấm việc lợi dụng quy định làm thêm giờ để trục lợi ngân sách nhà nước hoặc chi trả không đúng đối tượng, không đúng thực tế làm việc.
- Công tác thanh tra, kiểm tra: Các cơ quan quản lý cấp trên có trách nhiệm thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ làm thêm giờ tại các đơn vị trực thuộc, xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định của pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ NỘI VỤ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2415/BNV-TL | Hà Nội, ngày 22 tháng 08 năm 2007 |
Kính gửi: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam
Trả lời công văn số 80/BTMTVN ngày 02/8/2007 của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam về việc thanh toán chế độ trả lương làm thêm giờ đối với cán bộ, nhân viên thuộc Bảo tàng, Bộ Nội vụ có ý kiến như sau:
Căn cứ quy định tại khoản 1 mục IV Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 05/01/2005 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện chế độ trả lương làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ đối với cán bộ, công chức, viên chức thì cán bộ, công chức, viên chức đã có chế độ quy định số giờ làm việc tiêu chuẩn trong một ngày và số giờ làm việc tiêu chuẩn trong một tháng của cơ quan có thẩm quyền mà phải làm thêm giờ sau khi đã hoàn thành đủ số giờ tiêu chuẩn trong ngày theo quy định thì được hưởng chế độ trả lương làm việc thêm giờ.
Căn cứ điểm b khoản 2 mục II Hướng dẫn số 4057/HD-BVHTT ngày 30/9/2001 của Bộ Văn hóa thông tin hướng dẫn thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ thì đối với các bộ phận tổ chức hoạt động cả thứ 7, chủ nhật thì tổ chức làm việc luân phiên và nghỉ hợp lý để thực hiện tuần có 2 ngày nghỉ.
Căn cứ các quy định nêu trên thì cán bộ, nhân viên thuộc Bảo tàng làm việc thứ 7, chủ nhật theo số giờ làm việc tiêu chuẩn và được bố trí 2 ngày nghỉ bù vào 2 ngày khác trong tuần thì không thuộc đối tượng được hưởng chế độ trả lương làm việc thêm giờ theo quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2005/TTLT-BNV-BTC ngày 05/01/2005.
Trên đây là ý kiến của Bộ Nội vụ, đề nghị Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam thực hiện.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
Công văn số 2415/BNV-TL về việc chế độ trả lương làm thêm giờ do Bộ Nội vụ ban hành
- Số hiệu: 2415/BNV-TL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 22/08/2007
- Nơi ban hành: Bộ Nội vụ
- Người ký: Nguyễn Duy Thăng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 22/08/2007
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
